MỞ ĐẦU ‹ 1. Lí do chọn đê tài Trong bối cảnh sự tăng tốc của cuộc cách mạng và công nghệ hiện đại, kinh tế được xây dựng trên cơ sở tri thức, xã hội thông tin ngày càng được mở rộng, xu thé toàn cầu hoá,.thì trí tuệ đã và đang trở thành một nhân tố hàng đầu đề thể hiện sức mạnh, quyền lực của một quốc gia. Nhiều nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội mà còn là một nhân tố quan trọng thúc đây kinh tế, xã hội. Sống trong thế giới phát triển nhanh như vũ bão hiện nay, sống không phải là sống một cách “đơn thuần” với những nhu cầu cơ bản của con người, sống cũng có nghĩa là phải học hỏi, học suốt đời để hoà nhập, theo kịp với những bước tiến của xã hội.
Đề hội nhập được, con người ta cần trao đổi, cần liên lạc,.Chính vì vậy, một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu cho việc hội nhập với thế giới chính là ngoại ngữtạo điều kiện cho con người có thêm cơ hội tiếp cận với nguồn tri thức mới, giao lưu. Việt Nam - một nước đang phát triển đã và đang đi theo xu thế chung của toàn thế giới, nhà nước đã đưa ra nhiều quan điểm, chính sách nhằm thúc đây việc phát triển giáo dục, thay đổi, nâng cao chất lượng giáo dục, thay đổi phương pháp giáo dục,.Một trong sự thay đổi đó là việc đưa bộ môn Ngoại ngữ trở thành một trong những môn học mang tầm quan trọng hệ thống các môn học của hệ thống giáo dục của nước Việt Nam, đánh giá cao vai trò của ngoại ngữ như “Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1400/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân” (gọi tắt là dé án ngoại ngữ 2020 ngày 30/9/2008. Mục tiêu chung của đề án là “Thực hiện đổi mới toàn điện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục, trong đó có giáo dục đại học, nhằm đảm bảo đến năm 2015 đạt được bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực.Sự thay đỗi trong tỗ chức thi đại học và tốt nghiệp phổ thông trung học vừa qua, Bộ giáo dục đào tạo chủ trương tổ chức kỳ thi quốc gia chung và mỗi thi sinh phải dự thi 4 môn Toán, ngữ văn, ngoại ngữ và một môn tự chọn vào ngày 9/9/2014. Điều này sẽ hỗ trợ rất nhiều cho quan điểm “gắn hoạt động của giáo dục với nhu cau thi trường và nguồn nhân lực của các cơ sở kinh tế nhà nước, tư nhân và tập thể”[9, tr.
Dưới chính sách mở cửa của Việt Nam, nhiều công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia vào thị trường Việt Nam, nhu cầu của thị trường thay đổi, ngoại ngữ là cầu điều kiện cũng là lợi ích giúp cá nhân có nhiều cơ hội hơn trong tìm kiếm việc làm, có những việc làm tốt hơn, dễ dàng giao lưu hội nhập,.Điều này nói lên sự cần thiết của ngoại ngữ đối với học sinh, sinh viên tại Việt Nam — lớp người lao động thế hệ tiếp theo.Và một thực tế là trình độ ngoại ngữ của học sinh- sinh viên Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Kết quả kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2015, phổ điểm môn ngoại ngữ tập trung ở mức 2 - 3,5 điểm(hơn 74.000 học sinh đạt 2,5 điểm môn ngoại ngữ, gần 69.000 bị điểm 3 môn ngoại ngữ; 7000 em đạt điểm từ 9 trở lên)[36]. Tình trạng những em học sinh học giỏi ngoại ngữ sẽ lựa chọn ban D, số lượng những học sinh học không tốt ngoại ngữ sẽ có xu hướng lựa chọn khối cơ bản hoặc khoa học tự nhiên với môn chuyên là toán lý hoá sinh. Điều này kéo theo tâm lý không học tiếng anh, sợ học tiếng anh, và không cần thiết phải học tiếng anh trong một bộ phận lớn các em học sinh, tốt nghiệp trung học phổ thông xong không sử dụng được ngoại ngữ trong thực tế xã hội.
Vấn đề đào tạo ngoại ngữ từ năm lớp I đến năm lớp 12 mà có rất nhiều học sinh không thê sử dụng ngoại ngirdé phục vụ học tập, đọc tài liệu, giao tiếp,. * Vậy, hiện nay học sinh đã học ngoại ngữ như thế nào?Tại sao học ngoại ngữ một thời gian dài từ thời tiểu học lên đến phô thông trung học, đại học mà việc sử dụng ngoại ngữ phục vụ học tập và nhu cầu hàng ngày vẫn còn khó khăn trên nhiều bộ phận học sinh?Những yếu tố gì tác động đến việc học ngoại ngữ của học sinh trung học phổ thông? Chính từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn để tài nghiên cứu: “Hành vi học ngoại ngữ của học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội hiện nay” (Nghiên cứu tại trường Trung học phổ thông Trần Phú Hoàn Kiếm Hà Nội) nhằm mục đích xem xét nhận thức của học sinh trung học phô thông về vai trò của ngoại ngữ, hành vi học ngoại ngữ của học sinh trung học phổ thông hiện nay, những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi học ngoại ngữ của học sinh trung học phô thông hiện nay tại Hà Hội. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Một số nghiên cứu của nước ngoài Trong đề tài nghiên cứu của Ian James Michell (1993) “Teaching for quality learning”[32] đã đưa ra hai khuynh hướng học tập “tích cực” và tiêu cực của hoc sinh.
Danh sách những khuynh hướng học tập tiêu cực gồm 9 hành vi: (1) không chú ý - không nỗ lực chủ động xử lý thông tin trong quá trình học tập, (2) người học không tập trung vào những việc học chính chỉ tập chung vào những vấn đề không cần thiết trong lúc học, (3) Học/ tham gia học tập hời hợt (học để đối phó), (4) học không áp dụng bài học, (5) Khi gặp phải vẫn đề trong lúc học không cỗ gắng để giải quyết, (6) Không tham gia vào trao đôi ý kiến với thầy cô và bạn học; (7) những sai xót trong học tập không sửa đổi/ sửa đổi không hiệu quả, (8) Thiếu những suy nghĩ về những điều liên quan đến vấn đề đang được học, (9) Hành vi không có tư duy liên hệ với những vấn đề thực tế. Những hành vi học tập tích cực gồm (1) Tích cực tham gia (2) nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ một cách chính xác, (3) Trao đổi ý kiến với giáo viên khi không hiểu, (4) bày tỏ ý kiến bất đồng, (6) Yêu cầu có thêm thông tin về nội dung học, (7) Kiểm tra và sửa chữa sai sót, (8) Tìm hiểu những lý do dẫn đến sự sai sót, (9) Liên hệ ví dụ về cuộc sống trong khi học, (10) Hỏi những câu hỏi mình tò mò, (11) Tham gia những vấn đề được đặt ra trong giờ học, (12) Liên kết giữa các vấn đề trong môn học, đời thực (13) Gặp khó khăn tự xem xét, tìm hiểu trước khi yêu cầu sự giúp đỡ, (14) Hành vi gợi ý và sự khởi động trước giờ, (15) Kiên trì, (16) Chia sẻ những ý tưởng mới, (18) bảo vệ ý kiến của bản thân. Micheal Prince d& viét bai “Does active learing work? A review of the research”[30, tr. 234] (2004) đã xem xét các bằng chức về hiệu quả của hành vi hành tập.
Xác định các hình thức phô biến của hoạt động học tập có liên quan đến kỹ thuật và phương pháp giảng dạy của giáo viên. Tác giả đã đưa ra định nghĩa về hành vi học tập tích cực và phân biệt các loại hoạt động học tập tích cực khác nhau. Hành vi học tập tích cực tường được định nghĩa là bất kỳ phương pháp giảng dạy có sự tham gia của người học trong quá trinh học. Tóm lại, hoạt động học tập tích cực yêu cầu người học phải có những hoạt động học tập có ý nghĩa và nghĩ về những gì họ làm.Trong định nghĩa này, bao gồm các hoạt động truyền thông như làm bài tập về nhà, tham gia các hoạt động học tập tích cực được tổ chức ở trên lớp (thảo luận nhóm).
Hành vi học tập tích cực khác với hành vi học tập truyền thống ở chỗ học sinh thụ động trong việc tiếp cận thông tin từ giáo viên. Bên cạnh đó tác giả còn đề cập đến định nghĩa về hành vi học tập hợp tác (Cooperative learning) một hình thức cấu trúc nhóm làm việc nơi người học theo đuôi mục tiêu chung trong khi đang được đánh giá riêng lẻ. Các yếu tô cốt lõi của tổ chức chung là tập trung vào khuyến khích hợp tác hơn là cạnh tranh để thúc đây học tập, Ngoài ra, còn có cách định nghĩa khác về hợp tác học tập (Collaborative learning) — người học làm việc theo nhóm nhỏ hướng đến mục tiêu trung, nó bao gồm tất cả các phương pháp giảng dạy theo nhóm học tập. Và học dựa trên van dé hoc tap (Problem-based learning) những vấn đề được giới thiệu đầu và sao đó giải quyết vấn đề.
Bai viét “Active learning in the college classroom”[31, tr. 3-24] (1998) đã đề cap đến các kỹ thuật trong hoạt động học tập nhằm thúc đây học sinh học trong bối cạnh của một bài giảng. Các hoạt động đó được đưa ra trên cơ sở hoạt động nghe - đòi hỏi học sinh tiếp thu những gì họ nghe được và viết vào bài, qua đó học sinh sẽ có thể ứng dụng những kiến thức đã học vào đời sống thực hoặc những tình huống mới. Ngoài ra, các tác giả còn xem xét các kỹ thuật trong hành vi học tập tích cực, những khó khăn, rào cản trong việc thực hiện các hoạt động học tập tích cực và gợi ý những giải pháp.
Thêm vào đó, bài viết đưa ra những giới thiệu về tính tích cực được biểu hiện ra sao trong quá trình hành vi học tập. Các nghiên cứu trong nước Một chủ đề nghiên cứu về giáo dục rất được quan tâm đối với ngành xã hội học nói riêng và các ngành khoa học xã hội khác đó là chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, có rất nhiều thành tố cầu thành nên “Chất lượng giáo dục” vì thế việc nghiên cứu về chất lượng được nghiên cứu dựa nhiều khía cạnh khác nhau và từ hai phía người học và người dạy. Chẳng hạn từ phía người học: hành vi học tập, tư chất người học,.
Vì thế, hành vi học tập giữa các cá nhân khác nhau sẽ mang lại hiệu quả học tập, kết quả học tập ngoại ngữ khác nhau. Cho nên, nghiên cứu về hành vi học tập là một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.