Giáo phận Tây Đàng Ngoài trong mối quan hệ chính trị và xã hội thế kỷ XVIII - XIX

Luận văn về vai trò giáo phận Tây Đàng Ngoài thế kỷ XIX. Nghiên cứu mối quan hệ chính trị và ảnh hưởng của giáo phận trong bối cảnh lịch sử.

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

118
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƢƠNG 1: QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP GIÁO PHẬN TÂY ĐÀNG NGOÀI TỪ NĂM 1627 ĐẾN 1679

1.1. Hoạt động truyền giáo của các vị thừa sai dòng Tên ở Đàng Ngoài từ năm 1627 đến năm 1659

1.2. Hoạt động truyền giáo của các thừa sai dòng Tên từ năm 1627 đến năm 1648

1.3. Cuộc vận động của linh mục Alexandre de Rohodes tại Rome cho việc thiết lập các khu vực đại diện Tông tòa ở Việt Nam

1.4. Cuộc vận động của linh mục Alexandre de Rohodes tại Pháp cho việc thiết lập các khu vực đại diện Tông tòa ở Việt Nam

1.5. Thiết lập giáo phận Tông tòa Đàng trong và giáo phận Tông tòa Đàng Ngoài năm 1659

1.5.1. Hội thừa sai Pari với việc thành lập hai giáo phận tông tòa ở Việt Nam

1.6. Thành lập Giáo phận Tây Đàng Ngoài

1.7. Tiểu kết chƣơng 1

2. CHƢƠNG 2: GIÁO PHẬN TÂY ĐÀNG NGOÀI THẾ KỶ XVIII – XIX

2.1. Tổ chức của Giáo phận Tây Đàng Ngoài thế kỷ XVIII - XIX

2.1.1. Tổ chức điều hành giáo phận

2.1.2. Tổ chức nhân sự của Giáo phận Tây Đàng Ngoài

2.1.3. Thủ phủ Giáo phận Tây Đàng Ngoài

2.2. Sinh hoạt tâm linh của Giáo phận Tây Đàng Ngoài thế kỷ XVIII - XIX

2.2.1. Sinh hoạt tâm linh của giáo phận trƣớc khi có các sắc chỉ cấm đạo

2.2.2. Sinh hoạt tâm linh của giáo phận từ sau sắc chỉ cấm đạo ban hành 1833 đến trƣớc khi ngƣời Pháp hoàn thành quá trình xâm lƣợc Việt Nam 1884

2.2.3. Sinh hoạt tâm linh của giáo dân Giáo phận Tây Đàng Ngoài trong thời kỳ Pháp thuộc

2.3. Tiểu kết chƣơng 2

3. CHƢƠNG 3: GIÁO PHẬN TÂY ĐÀNG NGOÀI TRONG MỐI QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI THẾ KỶ XVIII – XIX

3.1. Giáo phận Tây Đàng Ngoài trong mối quan hệ chính trị thế kỷ XVIII - XIX

3.1.1. Giáo phận Tây Đàng Ngoài trong mối quan hệ với triều đình phong kiến Việt Nam trƣớc năm 1802

3.1.2. Giáo phận Tây Đàng Ngoài trong mối quan hệ với triều đình phong kiến Việt Nam từ năm 1802 đến năm 1858

3.1.3. Giáo phận Tây Đàng Ngoài trong Quan hệ với Triều đình phong kiến nhà Nguyễn sau năm 1858 đến hiệp ƣớc Psatenotre (1884)

3.2. Giáo phận Tây Đàng Ngoài trong mối quan hệ chính trị với triều đình phong kiến nhà Nguyễn và Thực Dân Pháp

3.3. Giáo phận Tây Đàng Ngoài trong mối quan hệ xã hội thế kỷ XVIII - XIX

3.3.1. Giáo phận Tây Đàng Ngoài trong mối quan hệ với vấn đề nghi lễ truyền thống của ngƣời Việt và với tôn giáo bạn

3.3.2. Các hoạt động xã hội nhằm cải thiện đời sống và góp phần nâng cao dân trí

3.3.3. Tổ chức Công giáo tiến hành tại Việt Nam và các hoạt động giúp cộng đồng chống lại dịch bệnh và đói nghèo

3.4. Tiểu kết chƣơng 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giáo Phận Tây Đàng Ngoài Tổng Quan Lịch Sử Địa Lý Tổ Chức

Giáo Phận Tây Đàng Ngoài giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam. Đây là nơi diễn ra mọi hoạt động lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo của tín hữu, là nơi thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo quyền và giáo dân. Từ nửa cuối thế kỷ XVIII cho đến năm 1846, giáo phận này trải dài từ phía nam sông Hồng cho tới phía Bắc sông Gianh. Năm 1753, giáo phận bao gồm 5 tỉnh và tỉnh "Kẻ Chợ", đó là Bố Chính, Nghệ An, Thanh Hóa, Tây Nam (Trấn Sơn Nam), và Miền Tây (Trấn Sơn Tây). Giáo phận Hà Nội, Hưng Hóa, Phát Diệm, Thanh Hóa và Vinh ngày nay hoàn toàn do các thừa sai Pháp của Hội truyền giáo Nước ngoài Paris đảm trách. Đến ngày 17/3/1846, Giáo hoàng Gregorio XVI ký sắc lệnh "Ex Debito Pastoralis" thành lập hai địa phận mới, chia từ địa phận Tây Đàng Ngoài thành địa phận Nam Đàng Ngoài (địa phận Vinh) và địa phận Tây Đàng Ngoài (Địa phận Hà Nội). Việc phân chia này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển và quản lý của Giáo hội tại Việt Nam. Sự hình thành và phát triển của Giáo phận Tây Đàng Ngoài không chỉ là một câu chuyện về tôn giáo mà còn là một phần của lịch sử Việt Nam thế kỷ 19, gắn liền với các biến động chính trị, xã hội và văn hóa của thời kỳ này. Giáo phận đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá văn hóa và xã hội Việt Nam thế kỷ XIX, đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều thách thức từ chính quyền phong kiến và thực dân Pháp.

1.1. Vị Trí Địa Lý và Phạm Vi Quản Lý Ban Đầu

Ban đầu, Giáo Phận Tây Đàng Ngoài bao gồm nhiều tỉnh thành quan trọng, trải dài trên một khu vực rộng lớn. Điều này tạo nên những khó khăn không nhỏ trong công tác quản lý và mục vụ. Việc đi lại, liên lạc giữa các xứ đạo gặp nhiều trở ngại do điều kiện địa hình, giao thông còn hạn chế. Tuy nhiên, chính sự trải rộng về địa lý này cũng giúp Giáo phận tiếp cận và ảnh hưởng đến nhiều tầng lớp dân cư khác nhau, góp phần vào sự phát triển và lan tỏa của lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam.

1.2. Quá Trình Phân Chia và Thành Lập Các Giáo Phận Mới

Sắc lệnh "Ex Debito Pastoralis" năm 1846 đánh dấu sự phân chia Giáo Phận Tây Đàng Ngoài thành hai địa phận Vinh và Hà Nội. Quyết định này xuất phát từ nhu cầu mục vụ thực tế, khi Giáo Phận trở nên quá lớn, khó khăn trong việc quản lý và chăm sóc đời sống tinh thần cho giáo dân. Việc thành lập các giáo phận mới giúp tăng cường hiệu quả quản lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc truyền giáo và phát triển Giáo hội Công giáo Việt Nam thế kỷ 19 tại các địa phương.

II. Tổ Chức Nhân Sự Bí Quyết Vận Hành Giáo Phận Tây Đàng Ngoài

Giáo phận Tây Đàng Ngoài có một hệ thống tổ chức chặt chẽ, hoàn chỉnh từ Giáo hội hoàn vũ đến Giáo hội địa phương (giáo phận hay địa phận) và Giáo hội cơ sở (giáo xứ hay xứ đạo). Giáo hội địa phương giữ vị trí đặc biệt quan trọng, là nơi diễn ra mọi hoạt động lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo của tín hữu. Năm 1853, Giám mục Liêu đã cho thấy rõ tổ chức của Giáo phận Tây Đàng Ngoài: "Cả địa phận chia thành 39 giáo xứ có khoảng 140 nghìn giáo dân...". Đứng đầu là Giám mục đại diện tông tòa, có Giám mục phó và linh mục tổng đại diện, có linh mục làm quản lý. Hằng năm các nơi phải gửi sổ chi thu về cho giám mục, thừa thì giúp cho nơi thiếu, thiếu thì được bù. Đến năm 1892 toàn Giáo phận Tây Đàng Ngoài được tổ chức thành 6 giáo hạt với 55 giáo xứ, có khoảng 264 nghìn giáo dân.

2.1. Vai Trò Của Giám Mục và Các Linh Mục Bản Xứ

Giám mục đóng vai trò trung tâm trong việc quản lý và điều hành Giáo Phận. Giám mục có trách nhiệm chăm sóc đời sống tinh thần cho giáo dân, bổ nhiệm các linh mục quản xứ, giải quyết các vấn đề phát sinh trong Giáo Phận. Đồng thời, các linh mục bản xứ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc truyền giáo, hướng dẫn đời sống đạo cho giáo dân. Chính sách tôn giáo của triều Nguyễn có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của các linh mục, đòi hỏi sự khéo léo, linh hoạt trong công tác mục vụ.

2.2. Hệ Thống Giáo Xứ và Vai Trò Của Thầy Giảng

Hệ thống giáo xứ là đơn vị cơ sở của Giáo Phận. Mỗi giáo xứ có một linh mục quản xứ chịu trách nhiệm chăm sóc đời sống đạo cho giáo dân. Bên cạnh đó, thầy giảng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảng dạy giáo lý, hướng dẫn các nghi lễ, cầu nguyện. Thầy giảng thường là những người có uy tín trong cộng đồng, am hiểu giáo lý và có khả năng truyền đạt tốt. Vai trò của họ đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xung đột tôn giáo và chính trị, khi các linh mục nước ngoài gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận và làm việc với giáo dân.

III. Vĩnh Trị Kẻ Sở Hai Thủ Phủ Lịch Sử Của Giáo Phận Tây Đàng Ngoài

Thủ phủ Vĩnh Trị đóng vai trò là trung tâm của Giáo Phận Tây Đàng Ngoài trong một thời gian dài, là nơi đặt nhà thờ, trường La tinh. Linh mục Jacques Benjanmin Longer – Gia có thời gian yên bề mở mang phát triển Giáo Phận tại đây. Tuy nhiên , trong giai đoạn 1833 - 1858, Vĩnh Trị đối mặt với những khó khăn lớn khi nhà thờ, nhà tràng bị triệt hạ. Tiếp đó, Kẻ Sở trở thành thủ phủ của Địa phận, là một trung tâm văn hóa Công giáo cho cả Đàng Ngoài. Thừa sai Puginier từ Sàigòn ra Bắc tới Kẻ Sở trong những năm 60 của thế kỷ XVIII - XIX. Kẻ Sở có Đại chủng viện, trường Latinh, trường thầy giảng, sở quản lí nhà in và nhà thờ lớn, nhà dòng Mến Thánh giá, trường học, bệnh viện…

3.1. Vĩnh Trị Trung Tâm Tôn Giáo và Văn Hóa Giai Đoạn Đầu

Vĩnh Trị là một họ đạo toàn tòng, có vị trí địa lý thuận lợi, dễ ẩn náu khi bị cấm cách. Giáo dân Vĩnh Trị nổi tiếng cứng cát, mạnh bạo, có lòng mến Đạo. Tuy nhiên, sự yên bình ở Vĩnh Trị không kéo dài mãi. Giai đoạn cuối đời vua Cảnh Hưng chứng kiến sự cấm đạo gắt gao, với nhiều hình thức tàn sát, triệt phá nhà thờ. Điều này đặt ra thách thức lớn cho sự tồn tại và phát triển của Giáo hội tại đây và trong mối quan hệ chính trị thế kỷ XIX.

3.2. Kẻ Sở Tiếp Nối Vai Trò Thủ Phủ và Phát Triển Cơ Sở Vật Chất

Sau khi Vĩnh Trị bị phá hủy, Kẻ Sở được chọn làm trung tâm của Địa phận. Kẻ Sở không chỉ là thủ phủ hành chánh về mặt tôn giáo, mà còn là một trung tâm văn hóa Công giáo. Kẻ Sở có Đại chủng viện, nhà in, nhà thờ lớn, nhà dòng Mến Thánh giá, trường học, bệnh viện,... Những cơ sở này đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân sự, truyền bá giáo lý, và thực hiện các hoạt động bác ái xã hội. Đồng thời cũng nâng cao dân trí trong mối quan hệ xã hội thế kỷ XVIII - XIX.

3.3. Nhà thờ Kẻ Sở Biểu tượng kiến trúc và tôn giáo

Nhà thờ Kẻ Sở là Nhà Thờ Chính Tòa của địa phận Tây Đàng Ngoài, là minh chứng cho lịch sử và quá trình phát triển của cộng đồng Công giáo Việt Nam. Nhà thờ có kiến trúc độc đáo và mang giá trị lịch sử, văn hóa sâu sắc. Đây cũng là nơi an nghỉ của nhiều vị Giám mục có công với Giáo Phận.

IV. Sinh Hoạt Tôn Giáo Tâm Linh Đời Sống Giáo Dân Tây Đàng Ngoài

Trong Giáo phận Tây Đàng Ngoài, đời sống tâm linh của giáo dân được thể hiện qua các nghi lễ, bí tích, và các hoạt động cầu nguyện. Sinh hoạt tâm linh của giáo phận chịu nhiều ảnh hưởng của chính sách tôn giáo của triều Nguyễn và các sắc chỉ cấm đạo. Tuy nhiên, đức tin của giáo dân vẫn kiên vững, thể hiện qua việc tham gia tích cực vào các hoạt động tôn giáo, giữ gìn truyền thống và văn hóa Công giáo.

4.1. Sinh Hoạt Tôn Giáo Trước Các Sắc Chỉ Cấm Đạo

Trước các sắc chỉ cấm đạo, giáo dân được tự do thực hành các nghi lễ tôn giáo. Các nhà thờ trở thành trung tâm sinh hoạt cộng đồng, nơi giáo dân tụ họp để cầu nguyện, tham dự thánh lễ, và chia sẻ cuộc sống. Các hoạt động truyền giáo cũng diễn ra một cách công khai, giúp mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Công giáo.

4.2. ẢNh Hưởng của Chính Sách Cấm Đạo Đến Đời Sống Tâm Linh

Các sắc chỉ cấm đạo gây ra nhiều khó khăn cho đời sống tôn giáo của giáo dân. Nhiều nhà thờ bị phá hủy, các linh mục bị bắt bớ, giáo dân phải sống ẩn dật để tránh bị phát hiện. Tuy nhiên, đức tin của giáo dân vẫn không hề suy giảm. Họ vẫn âm thầm giữ đạo, cầu nguyện tại gia đình, và giúp đỡ lẫn nhau trong khó khăn. Các hoạt động tôn giáo vẫn diễn ra một cách bí mật, thể hiện sự kiên trung và lòng trung thành với đạo Công giáo và chính trị Việt Nam.

4.3. Thời kỳ Pháp thuộc Sinh hoạt tâm linh của giáo dân

Trong thời kỳ Pháp thuộc, các hoạt động tôn giáo được nới lỏng hơn, cộng đồng Công giáo dần được phục hồi. Giáo dân có cơ hội xây dựng lại nhà thờ, tổ chức các hoạt động tôn giáo công khai, và phát triển các hoạt động bác ái, xã hội.

V. Giáo Phận Tây Đàng Ngoài Quan Hệ Chính Trị Xã Hội Thế Kỷ XVIII XIX

Giáo phận Tây Đàng Ngoài không chỉ là một thực thể tôn giáo mà còn là một phần của quan hệ chính trị thế kỷ XIX và đời sống xã hội Việt Nam. Mối quan hệ giữa Giáo phận với triều đình phong kiến Việt Nam, với các tôn giáo bạn, và với cộng đồng xã hội nói chung là vô cùng phức tạp và đa chiều. Giáo phận phải đối mặt với những thách thức từ chính sách cấm đạo, sự can thiệp của Pháp, và những mâu thuẫn về văn hóa, tín ngưỡng.

5.1. Quan Hệ Với Triều Đình Phong Kiến Việt Nam Trước 1802

Trước năm 1802, mối quan hệ giữa Giáo phận Tây Đàng Ngoài và triều đình phong kiến Việt Nam mang tính chất đối thoại và hợp tác. Triều đình có lúc ủng hộ, có lúc hạn chế hoạt động truyền giáo. Các thừa sai thường tìm cách hòa nhập vào văn hóa bản địa, đồng thời đóng góp vào các hoạt động xã hội, kinh tế của đất nước.

5.2. Quan Hệ Với Triều Đình Phong Kiến Việt Nam 1802 1858

Giai đoạn từ 1802 đến 1858 chứng kiến sự căng thẳng trong mối quan hệ giữa Giáo phận và triều đình. Chính sách cấm đạo trở nên nghiêm ngặt hơn, với nhiều cuộc đàn áp, bắt bớ. Tuy nhiên, Giáo hội vẫn tìm cách duy trì hoạt động, bảo vệ giáo dân, và đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo.

5.3. Quan Hệ Với Triều Đình Phong Kiến Nhà Nguyễn Sau 1858

Sau năm 1858, mối quan hệ giữa Giáo phận và triều đình càng trở nên phức tạp do sự can thiệp của Pháp. Giáo phận trở thành một công cụ trong tay thực dân Pháp, gây ra nhiều mâu thuẫn, xung đột trong xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, Giáo hội cũng có những nỗ lực để duy trì sự độc lập, bảo vệ quyền lợi của giáo dân, và đóng góp vào sự phát triển của đất nước giai đoạn lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX.

5.4. Giáo phận Tây Đàng Ngoài trong quan hệ xã hội

Giáo phận Tây Đàng Ngoài có những đóng góp nhất định vào xã hội Việt Nam thông qua các hoạt động bác ái, giáo dục, và y tế. Tuy nhiên, Giáo phận cũng phải đối mặt với những mâu thuẫn về văn hóa, tín ngưỡng, và sự kỳ thị từ một bộ phận xã hội.

VI. Ứng Dụng Kết Quả Phân Tích Luận Văn Ý Nghĩa Nghiên Cứu

Nghiên cứu về Giáo Phận Tây Đàng Ngoài trong mối quan hệ chính trị - xã hội thế kỷ XVIII - XIX không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam mà còn cung cấp những góc nhìn đa chiều về giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước. Luận văn đóng góp vào việc làm sáng tỏ mối quan hệ phức tạp giữa tôn giáo và chính trị, giữa văn hóa bản địa và văn hóa phương Tây, giữa truyền thống và hiện đại.

6.1. Tổng Kết và Bài Học Kinh Nghiệm Từ Quá Khứ

Nghiên cứu về Giáo Phận Tây Đàng Ngoài giúp chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu về vai trò của tôn giáo trong xã hội, về tầm quan trọng của sự hòa nhập văn hóa, về sự cần thiết của đối thoại và hợp tác giữa các tôn giáo và các lực lượng chính trị khác nhau. Những bài học này có giá trị tham khảo lớn cho việc xây dựng một xã hội Việt Nam hòa bình, ổn định, và phát triển bền vững.

6.2. Triển Vọng Nghiên Cứu Trong Tương Lai

Nghiên cứu về Giáo Phận Tây Đàng Ngoài có thể được mở rộng và phát triển theo nhiều hướng khác nhau. Có thể đi sâu vào phân tích các hoạt động bác ái, giáo dục, y tế của Giáo phận. Có thể so sánh và đối chiếu Giáo Phận Tây Đàng Ngoài với các Giáo Phận khác ở Việt Nam. Hoặc có thể nghiên cứu về ảnh hưởng của Giáo Phận Tây Đàng Ngoài đến đời sống văn hóa, xã hội của các địa phương. Tất cả những hướng nghiên cứu này đều có ý nghĩa quan trọng trong việc làm phong phú thêm tri thức về lịch sử Việt Nam và Giáo hội Công giáo.

19/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề này của Công giáo Việt Nam ở Rôma không ai khác là linh mục Đắc Lộ. Nhƣng trƣớc đó nhiều năm, tòa thánh cũng đã nhận thấy cần phải tổ chức và cơ cấu lại nhân sự truyền giáo trên thế giới, theo một chiều hƣớng chủ động hơn, chứ không thể phó mặc cho Vua Bồ Đào Nha hay Tây Ban Nha nhƣ trƣớc. Do đó vấn đề của Việt Nam mà thừa sai Alexandre de Rohodes đặt ra đƣợc giải quyết tƣơng đối sớm.2 Cuộc vận động của linh mục Alexandre de Rohodes tại Rome cho việc thiết lập các khu vực đại diện Tông tòa ở Việt Nam Ngày 2/8/1650, sau nhiều cố gắng nỗ lực linh mục Alexandre de Rohodes đã trình bày đƣợc với Bộ Truyền giáo về nhu cầu của công cuộc truyền giáo tại Việt Nam: Một giáo hội với hơn 300.000 tín hữu đòi hỏi 300 đến 400 linh mục thừa sai; lấy đâu ra số thừa sai đó? Làm sao chuyên chờ đƣợc số thừa sai đó (500 đồng tiền vàng cho một đầu ngƣời), một vài thừa sai ngoại quốc vào đó đã khó khăn, làm sao có thể đem vào 300 – 400 ngƣời đƣợc? giải pháp tốt nhất là cử một vài giám mục đến để phong chức linh mục 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho ngƣời bản xứ. Và không nên đặt các giám mục có tòa (Évêque résidentiael) để khỏi đụng chạm tới quyền bảo trợ của vua Bồ Đào Nha, mà chỉ nên gửi các giám mục hiệu tòa (Évêque titulaire) làm đại diện tông tòa (vicaire apostolique), do Tòa thánh tự ý sai phái hoặc triệu hồi.

Tháng 5/1652 khi chƣa thấy kết quả gì, linh mụcAlexandre de Rohodes lại gửi tới Giáo hoàng Innocent X một bản thỉnh nguyện lặp lại những điều đã trình bày với Bộ Truyền giáo. Linh mục khẩn thiết kêu đến Giáo hoàng quan tâm đến một cộng đoàn ngƣời đông đúc chƣa đƣợc nhận lãnh bí tích Thêm Sức, lại đang sống trong thời kì bị cấm cách. Linh mục bảo đảm rằng các kitô hữu Việt Nam rất kiên cƣờng. Trong 100 thầy giảng ở Đàng Ngoài có thể chọn đƣợc nhiều ứng viên linh mục.

Ngày 30/07/1652, Bộ Truyền giáo họp dƣới sự chủ trì của đức Giáo hoàng, nhƣng cũng chỉ đi đến kết luận là cần gửi linh mục triều tới miền truyền giáo này để nhằm mục đích thanh tra tình hình tại chỗ. Vị Linh mục thanh tra này có thể sẽ là đại diện Tông tòa đầu tiên. Tòa thánh cũng nhận thấy cần phải trực tiếp đảm nhận công cuộc truyền giáo chứ không thể khoán trắng cho Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha cùng các Dòng tu lớn. Chính vì thế mà kế hoạch do linh mục Alexandre de Rohodes trình bày rất phù hợp với ý đồ của bộ Truyền Giáo.

Nhƣ vậy về mặt cơ bản công cuộc vận động của linh mục Alexandre de Rohodes cho giáo hội Việt Nam bƣớc đầu đã có kết quả. Mặc dù không nhƣ linh mục mong muốn nhƣng đó cũng là một tín hiệu tốt cho giáo hội Việt Nam.3 Cuộc vận động của linh mục Alexandre de Rohodes tại Pháp cho việc thiết lập các khu vực đại diện Tông tòa ở Việt Nam Ngày 11/09/1652 linh mục Alexandre de Rohodes sang Pháp để tìm ứng viên Giám mục. Trong “hành trình truyền giáo” linh mục Alexandre de Rohodes nói ông thực sự không muốn trở lại Việt Nam một mình, bởi vì đã già và cũng sắp xuống mộ, nên ông nghĩ là tới Pháp để tìm thêm một thừa sai 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và tìm cách để có đƣợc các giám mục, và còn thêm một mục đích nữa không kém phần quan trọng là vận động tài chính. Ở đất nƣớc này dƣờng nhƣ mọi thứ quá thuận lợi với linh mục Đắc Lộ, ông tìm đƣợc những linh mục trẻ đăng ký đi truyền giáo tại Việt Nam.

Đặc biệt ông gặp đƣợc ba linh mục có thể là ứng viên Giám mục, trong đó có linh mục Pallu, Ngƣời chính là Giám mục đại diện Tông tòa Đàng Ngoài sau này. Nhƣng điều may mắn nhất cho linh mục Alexandre de Rohodes lần sang Pháp đã gặp đƣợc Vua Louis XIV và Hoàng hậu cùng nhiều mệnh phụ phu nhân giàu có bậc nhất trong triều đình, vì vậy vấn đề tài chính đã đƣợc khắc phục, linh mục nhanh chóng báo tin vui này cho Bộ Truyền Giáo. Nhƣ vậy là những cố gắng nỗ lực cuối cùng của linh mục Alexandre de Rohodes cho giáo hội Việt Nam cũng đã đƣợc đến đáp, duy chỉ có điều sau lần vận động này ông không còn đƣợc quay lại Việt Nam để tiếp tục công việc mà phải sang Ba Tƣ và mất ở đó vào ngày 5/11/1660.2 Thiết lập giáo phận Tông tòa Đàng trong và giáo phận Tông tòa Đàng Ngoài năm 1659 1.1 Hội thừa sai Pari với việc thành lập hai giáo phận tông tòa ở Việt Nam Chính quyền thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã nhận từ Giáo Hoàng đặc quyền để truyền giáo trên những phần đất đã chinh phục theo hệ thống Padroado Real tức bảo hộ trực thuộc hoàng gia dành cho Bồ Đào Nha và bảo hộ thực sự dành cho Tây Ban Nha. Tuy nhiên, Rôma bất bình với chế độ bảo hộ trực thuộc hoàng gia, bởi việc truyền giáo là của Giáo Hội mà phải tùy thuộc vào thế lực chính trị và quyền quyết định của nhà vua Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha.

Rôma nghi ngờ về hiệu quả truyền giáo nơi các dòng tu nhƣ Đa Minh hay Phanxicô. Họ bị tổn thƣơng nặng nề qua những vụ bách hại. Họ không thành công trong việc đào tạo giáo sĩ địa phƣơng để những giáo sĩ bản quốc 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đảm nhận trách nhiệm truyền giáo và họ sẽ ít bị tổn thƣơng vì bách hại. Rôma quyết định gửi những giám mục, những ngƣời sẽ chú tâm phát triển giáo sĩ địa phƣơng coi nhƣ một lối thoát cho tƣơng lai.

Linh mục Alexandre de Rohodes viết “Chúng tôi có đầy đủ lý do để sợ rằng những gì đã xảy ra ở Giáo Hội Nhật Bản thì có thể sẽ xảy ra nơi Giáo Hội Annam, vì những vua chúa ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ rất có quyền và sành chinh chiến. Tòa Thánh cần gửi những chủ chăn đến những miền Đông Phƣơng này nơi mà Kitô hữu gia tăng thật nhanh chóng. Nếu không có Giám mục ngƣời ta chết không đƣợc lãnh bí tích gì cả, thật là tại hại!” Năm 1622, Giáo Hoàng Grêgôriô XV, muốn lấy lại quyền kiểm soát công việc truyền giáo, Linh mục đã thiết lập Thánh Bộ Truyền Bá Đức tin nhằm mang đức tin Công giáo không chỉ đến anh em ngoài Công giáo nhƣ Tin lành, nhƣng còn đến dân cƣ ở Châu Mỹ và Á Châu. Để thực hiện điều nầy, Roma thiết lập Đại Diện Tông Tòa, có nhiệm vụ nhận chỉ thị trực tiếp từ Roma, đồng thời dễ thiết lập giáo sĩ địa phƣơng.

Những thế kỷ XVII và XVIII đã có những gay cấn giữa thuộc địa và truyền giáo. Sự thiết lập Hội Thừa Sai Paris là một cố gắng của Rôma để điều chỉnh và phát huy sứ mạng truyền giáo. Sau chuyến truyền giáo ở Việt Nam, linh mục Alexandre de Rohodes yêu cầu gửi số đông thừa sai đến Viễn Đông, Linh mục đƣợc Giáo Hoàng Innocente đồng ý gửi linh mục triều và giám mục đi làm thừa sai. Đồng thời linh mục Alexandre de Rohodes cũng nhận đƣợc sự trợ tài chính từ tổ chức “Bạn đồng hành của Bí Tích Thánh Thể” để thiết lập Hội Thừa Sai Pari.

Ông thu phục đƣợc các linh mục triều thiện nguyện ngay tại Pari nhƣ linh mục Francois Pallu, Pierre Lambert de la Motte. Đây là những thành viên đầu tiên của Hội và họ đƣợc gửi sang Viễn Đông nhƣ Đại Diện tông tòa. Ngày 29 tháng 7 năm 1658, hai vị sáng lập Hội Thừa Sai Pari đƣợc tấn phong Giám Mục tại Vatican, Giám mục Pallu, Giám Mục hiệu tòa 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Heliopolis, Giám Mục Đại Diện Tông Tòa của Bắc Phần và Giám mục Lambert de la Motte, Giám Mục hiệu tòa Beirut, Đại diện tông tòa Nam Kỳ. Ngày 9/9/1659 cũng bằng một sắc thƣ, Giáo hoàng Alexandre VII giao nhiệm vụ cho Giám mục Pallu cai quản các tỉnh Đàng Ngoài với một số tỉnh của Trung Quốc và Lambert cai quản các tỉnh Đàng Trong với một số tỉnh của Trung Quốc.

Theo đó khu vực đại diện tông tòa Đàng Ngoài (Vicariat apostolique du Tonkin), ở phía Bắc sông Gianh, đặt dƣới quyền cai quản của giám mục Pallu. Khu vực dại diện tông tòa Đàng trong (Vicariat apostolique de la Cochinchine), ở phía nam sông Gianh, đặt dƣới quyền cai quản của Giám mụcLambert. Tất cả những giám mục đều là giám mục hiệu tòa của in partibus infidelium, tức những phần đất của ngƣời không có đức tin, hay nói khác đi là rất xa xôi, để tránh sự đố kỵ của những giám mục đƣợc thiết lập qua hệ thống thuộc địa. Năm 1658 Hội đƣợc tổ chức “Bạn Đồng hành của Bí Tích Thánh thể” thành lập chính thức nhằm truyền giáo cho những phần đất không có ảnh hƣởng Kitô giáo, cũng nhƣ thiết lập giáo hội và hàng giáo sĩ địa phƣơng.

Ngày 10/11/1659, Bộ Truyền giáo trao cho các giám mục đại diện tông tòa bản chỉ thị về những việc phải làm trong khi đi đƣờng và khi tới vùng truyền giáo. Bộ Truyền giáo dặn dò các giám mục và đoàn tùy tùng là trƣớc khi đi cùng nhƣ trong khi đi phải giữ bí mật về danh tánh, chức vụ và mục đích chuyến đi, phải tránh đi qua các vùng do ngƣời Bồ Đào Nha kiểm soát. Khi tới nơi các giám mục đại diện tông tòa có bốn nhiệm vụ chính: 1. Đào tạo linh mục bản xứ 2.

Tôn trọng văn hóa và tập tục địa phƣơng 3. Không xen vào việc chính trị 4. Không quyết định một điều gì quan trọng mà không xin ý kiến của Bộ truyền giáo, nhất là trong việc tuyển chọn các giám mục bản quốc. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi đặt chân đến Việt Nam các giám mục gặp không ít những khó khăn.

Đầu tiên phải kể đến sự chống đối của ngƣời Bồ Đào Nha và các giáo sĩ Dòng tên vì, theo sự phân vùng của Giáo hoàng Alexandre VI năm 1493 thì tất cả các giám mục thừa sau ở vùng châu phi và châu Á đều do triều đình Bồ Đào Nha cắt cứ và đài thọ. Nhƣng sự chống đối này cũng không là gì đáng ngại, vì thế lực của Bồ Đào Nha càng ngày càng xuống dốc, sự chống đối nguy hiểm và tai hại hơn chính là sự chống đối của các giáo sĩ Dòng Tên, là những ngƣời có công khai phá công cuộc truyền giáo ở đây, trong nhiều chục năm. Trƣớc tiên là sự chống đối của các giáo sĩ Dòng Tên ngƣời Bồ Đào Nha, sau là hầu nhƣ tu sĩ của tất cả các nƣớc, kể cả nƣớc Pháp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ