Chương 1: Ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh trường THPT Văn Lâm, Tỉnh Hưng Yên – Một số vấn đề lý luận Chương 2: Thực trạng giáo dục ý thức pháp luật của học sinh trường THPT Văn Lâm, Tỉnh Hưng Yên và nguyên nhân của thực trạng Chương 3: Một số biện pháp giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh trường THPT Văn Lâm, Tỉnh Hưng Yên hiện nay 4 c Chƣơng 1 Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRƢỜNG THPT VĂN LÂM, TỈNH HƢNG YÊN – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm ý thức “Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”[4, tr. Ý thức là toàn bộ những quan niệm, quan điểm của con người về thế giới và mối quan hệ của con người trong thế giới đó.“Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định. Song, sau khi ra đời, ý thức có tính độc lập tương đối nên có sự tác động trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Ý thức đúng đắn dựa trên quy luật khách quan của con người, có tác dụng tích cực, làm biến đổi hiện thực, biến đổi hoàn cảnh khách quan theo nhu cầu của con người. Ngược lại, ý thức sai lầm, trái quy luật khách quan của con người có tác dụng tiêu cực, thậm chí phá hoại các điều kiện khách quan, hoàn cảnh khách quan, kéo lùi lịch sử.” “Ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu rất phức tạp, bao gồm nhiều thành tố khác nhau có quan hệ với nhau.
Có thể chia kết cấu của ý thức theo hai chiều”[32, tr.74,75] + Theo chiều dọc: ý thức bao gồm các yếu tố như: tự ý thức, tiềm thức, vô thức… + Theo chiều ngang: ý thức bao gồm các yếu tố như tri thức, tình cảm, ý chí, niềm tin… trong đó, tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi. “Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, là sự tái tạo lại hình ảnh 5 c của đối tượng được nhận thức dưới nhiều loại ngôn ngữ khác nhau. Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức, là điều kiện để ý thức phát triển. Tri thức có nhiều lĩnh vực khác nhau: tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người,… và có nhiều cấp độ khác nhau: tri thức cảm tính và tri thức lý tính, tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học,…” “Để cải tạo tự nhiên và xã hội, con người phải có hiểu biết về thế giới, nói cách khác, chúng ta phải có tri thức về sự vật.
Do đó, mọi hiện tượng ý thức đều có nội dung tri thức ở mức độ nhất định. Tri thức là phương thức mà theo đó ý thức tồn tại và theo đó, một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức. Quá trình hình thành và phát triển của ý thức cũng là quá trình con người tìm kiếm, tích lũy tri thức về thế giới xung quanh.”Nó không chỉ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn giúp con người có đầu óc tư duy sáng tạo, tầm nhìn sâu rộng. Con người càng hiểu biết về sự vật thì ý thức về sự vật càng sâu sắc.
Tuy nhiên, sự tác động của thế giới bên ngoài đến con người không chỉ đem lại hiểu biết về thế giới mà còn đem lại cho con người tình cảm về thế giới. Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong các quan hệ với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình.“Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh hiện thực, được hình thành từ sự khái quát những cảm xúc cụ thể của con người khi nhận sự tác động của thế giới khách quan. Tình cảm biểu hiện và phát triển trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là yếu tố phát huy sức mạnh, là động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người…” “Ý chí là sự biểu hiện sức mạnh của bản thân mỗi người nhằm vượt qua những trở ngại trong quá trình thực hiện mục đích.”Ý chí là sự thống nhất hữu cơ giữa tri thức và tình cảm, có vai trò điều khiển, thúc đẩy con người vượt 6 c qua những khó khăn, thử thách để hoạt động có hiệu quả… “Tất cả các yếu tố cấu thành ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, song, tri thức là yếu tố quan trọng nhất, là phương thức tồn tại của ý thức, đồng thời là nhân tố định hướng sự phát triển cũng như mức độ biểu hiện của các yếu tố khác…” 1. Khái niệm pháp luật “Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng lịch sử cơ bản nhất của đời sống chính trị - xã hội, là hai phạm trù lịch sử có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau.
Nhà nước sẽ không thể tồn tại nếu không có pháp luật và ngược lại. “Nguyên nhân ra đời của Nhà nước cũng chính là nguyên nhân ra đời pháp luật.” Nhà nước ban hành pháp luật nhằm củng cố chế độ tư hữu và quy định đặc quyền cho giai cấp thống trị. Pháp luật là hệ thống các quy phạm do nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Nó khác với các quy phạm xã hội khác, nó thể hiện ý chí của tất cả mọi người.” “Pháp luật ra đời cùng với Nhà nước, là công cụ sắc bén mang tính giai cấp để thực hiện quyền lực nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
Nhà nước ban hành ra pháp luật và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện.” Thứ nhất, Ở Trung Hoa cổ đại, tư tưởng về pháp luật thường gắn với đạo đức, luân lý, đề cao tư tưởng “Đức trị”, coi đạo đức là cái chi phối các quan hệ xã hội, chi phối sự vận hành nhà nước và pháp luật. Khổng Tử nói: “Xử kiện thì ta cũng xử được như người, nhưng phải làm sao đừng có kiện tụng, há không phải hơn sao?” [16, tr. Nghĩa là, cần phải giáo hóa người dân để làm sao học sống với nhau một cách tốt đẹp, không để xảy ra kiện tụng là chủ yếu, và pháp luật tuy có nhưng không cần phải dùng đến. Pháp luật được ban hành và thực hiện để duy trì, bảo vệ đức hiếu trung, để bảo vệ tôn ti trật tự xã hội.
7 c Tuy nhiên, bên cạnh sự khác nhau căn bản, tư tưởng về pháp luật của triết học phương Tây và triết học phương Đông có điểm tương đồng về nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước pháp quyền“không loại trừ đạo đức, thiếu đạo đức, xã hội sẽ hỗn loạn. Trong tư tưởng Pháp trị, Hàn Phi Tử cho rằng: ý muốn cá nhân của vị quân vương là cội nguồn của tình trạng vô pháp luật. Luật pháp đối với quý tộc cũng như đối với kẻ hèn mọn, đều phải như nhau.” Thứ hai, trong triết học phương Tây, có một số triết gia đã đưa ra những quan điểm về pháp luật, như là: Với Max Weber (1864 – 1920) một trong những người sáng lập ngành Xã hội học và quản trị công đương đại, pháp luật “tồn tại nếu nó được bảo đảm bởi khả năng cưỡng chế để buộc chủ thể bị điều chỉnh phải tuân thủ hoặc nếu vi phạm sẽ bị xử lý và được áp dụng bởi đội ngũ những người có chức trách chuyên làm nhiệm vụ này”.19] Theo Karl Marx (1818 – 1883) người sáng lập Chủ nghĩa Xã hội Khoa học cùng Friedrich Engels, pháp luật của xã hội tư sản chẳng qua chỉ là “ý chí của các ông được nâng lên thành luật áp dụng chung cho tất cả mọi người – thứ ý chí mà nội dung chủ yếu của nó do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định”.19] Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “pháp luật là quy tắc, hành vi của công dân do nhà nước quy định, ban hành, buộc phải tuân theo không được trái phạm”.
1023] Có thể thấy, với mỗi giai đoạn, mỗi thời đại, mỗi giai cấp, xã hội khác nhau đều có những định nghĩa, những quan điểm khác nhau về pháp luật. Một cách chung nhất, chúng ta có thể định nghĩa khái quát: “Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự (hệ thống những quy phạm) do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị 8 c nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình”. Khái niệm ý thức pháp luật “Theo quan điểm triết học Mác – Lênin, ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội trong xã hội có giai cấp, là một trong những vấn đề cơ bản, đa dạng, phức tạp của đời sống pháp luật. Nó tồn tại khách quan cùng với các hình thái ý thức xã hội khác, như: đạo đức, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học…” Ý thức pháp luật tồn tại phổ biến trong ý thức của mỗi cá nhân và của toàn xã hội.
Bản chất của nó là phản ánh đời sống cá nhân của toàn xã hội. Ý thức pháp luật của con người có được thông qua quá trình lao động, sáng tạo và hình thành ngôn ngữ.“Nó xuất hiện muộn hơn các hình thái ý thức xã hội khác, là nhân tố quyết định trong đời sống pháp lý, ý thức pháp luật thể hiện hai mặt chủ quan: đó là sự hiểu biết pháp luật và thái độ, tình cảm đối với pháp luật của cá nhân.” “Hiểu theo nghĩa hẹp, nghĩa thông thường, ý thức pháp luật là ý thức chấp hành những quy định pháp luật của con người. Vì thế, khi đánh giá ý thức pháp luật của tập thể hay cá nhân nào đó, người ta thường so sánh giữa giữa hành vi chấp hành pháp luật của những đối tượng đó với yêu cầu của những quy định trong văn bản pháp luật để đánh giá ý thức pháp luật của họ là cao hay thấp, là tốt hay kém.” Đã có rất nhiều quan điểm về ý thức pháp luật được đưa ra xem xét nó dưới nhiều góc độ khác. Tuy nhiên, khi nghiên cứu ý thức pháp luật, không nên nhìn nhận phiến diện, “một chiều”, mà phải đặt nó trong mối quan hệ phức tạp của đời sống – xã hội.
Có thể hiểu: “Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội.