Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và hội nhập quốc tế, Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật, đồng thời xây dựng văn hóa pháp lý và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân. Trong cơ cấu dân cư, học sinh trung học phổ thông (THPT) là lực lượng trẻ đang trong giai đoạn phát triển thể chất và định hình nhân cách. Đây là lứa tuổi có nhu cầu khẳng định bản thân cao nhưng lại thiếu hụt kinh nghiệm sống và tri thức pháp lý, khiến các em dễ bị lôi kéo, kích động trước những tác động tiêu cực của đời sống xã hội.

Trường THPT Văn Lâm (huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) là cơ sở giáo dục có bề dày truyền thống dạy và học. Tuy nhiên, cùng với quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp nhanh chóng của địa phương, môi trường học đường tại đây đã xuất hiện những hiện tượng lệch chuẩn: vi phạm nội quy, lối sống thực dụng, bạo lực học đường và vi phạm các quy định an toàn giao thông. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải đánh giá một cách khoa học công tác giáo dục pháp luật tại nhà trường để tìm ra các giải pháp khắc phục.

Mục tiêu tổng quát của khóa luận là nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng công tác giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh trường THPT Văn Lâm, chỉ rõ nguyên nhân của các thành tựu và hạn chế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh trong giai đoạn hiện nay.

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận có liên quan đến giáo dục ý thức pháp luật và vai trò của công tác giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT.
  2. Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh tại trường THPT Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
  3. Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho học sinh trường THPT Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác giáo dục ý thức pháp luật và thực trạng ý thức pháp luật của học sinh THPT. Phạm vi không gian nghiên cứu được giới hạn tại trường THPT Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Phạm vi thời gian tập trung khảo sát các khóa học sinh từ K50 đến K52 trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Tác giả vận dụng hệ thống các khái niệm lý luận chuyên ngành Triết học và Giáo dục học:

  • Ý thức: Sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người; kết cấu theo chiều dọc gồm tự ý thức, tiềm thức, vô thức; kết cấu theo chiều ngang gồm tri thức, tình cảm, ý chí, niềm tin.
  • Pháp luật: Hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Khóa luận đối chiếu tư tưởng pháp lý phương Đông (thuyết "Đức trị" của Khổng Tử, "Pháp trị" của Hàn Phi Tử) và tư tưởng phương Tây (quan niệm của Max Weber, Karl Marx).
  • Ý thức pháp luật: Hình thái ý thức xã hội phản ánh trực tiếp đời sống pháp luật, bao gồm tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật và ý chí pháp luật.
  • Giáo dục ý thức pháp luật: Hoạt động có tổ chức, có mục đích của chủ thể giáo dục nhằm cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm và định hướng hành vi hợp pháp cho đối tượng được giáo dục.
  • Mô hình tâm lý hành vi: Ứng dụng mô hình liên kết giữa Nhận thức về pháp luật – Niềm tin/Cảm xúc – Thái độ – Hành vi chủ ý – Hành vi thực tế (dẫn theo McShane S. L & Von Glinow M. A, 2003).

Về văn bản pháp luật, khóa luận căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (đặc biệt là Khoản 1 Điều 60 quy định về độ tuổi và dung tích xi-lanh của phương tiện được phép điều khiển).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm: phương pháp biện chứng duy vật kết hợp với các phương pháp nghiên cứu liên ngành như phân tích, tổng hợp tài liệu lý luận; điều tra xã hội học; thống kê, so sánh và đối chiếu số liệu.

Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm có: các văn kiện, nghị quyết của Đảng; số liệu thống kê kinh tế - xã hội từ Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên (báo cáo tháng 3/2019); báo cáo tổng kết năm học, hồ sơ quản lý nề nếp và kết quả học tập môn Giáo dục Công dân của trường THPT Văn Lâm giai đoạn 2015 – 2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh trường THPT Văn Lâm, Tỉnh Hưng Yên – Một số vấn đề lý luận

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về ý thức pháp luật và công tác giáo dục ý thức pháp luật trong môi trường học đường. Tác giả khẳng định ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội mang tính giai cấp và có tính độc lập tương đối. Kết cấu của ý thức pháp luật bao gồm ba thành tố hữu cơ: tri thức pháp luật (nền tảng định hướng nhận thức), tình cảm pháp luật (thái độ, cảm xúc thúc đẩy hành động) và ý chí pháp luật (sự tự giác, quyết tâm làm chủ hành vi theo chuẩn mực pháp lý).

Nội dung giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh THPT được tác giả cụ thể hóa thành ba nhiệm vụ:

  1. Giáo dục tri thức pháp luật: Trang bị hệ thống kiến thức pháp luật cơ bản thông qua chương trình môn Giáo dục Công dân (GDCD) và các hoạt động tích hợp, giúp học sinh nhận diện ranh giới giữa hành vi hợp pháp và bất hợp pháp.
  2. Giáo dục thái độ chấp hành pháp luật: Rèn luyện thái độ tôn trọng trật tự, kỷ cương, xây dựng sự nhạy cảm và phản ứng tích cực trước các quy định pháp luật.
  3. Giáo dục niềm tin vào đường lối của Đảng và sự thực thi pháp luật của Nhà nước: Củng cố niềm tin vào tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật, tạo động lực tinh thần để học sinh tự nguyện thực hiện nghĩa vụ công dân.

Chương này cũng phân tích sự cần thiết khách quan của công tác giáo dục pháp luật trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường, các biểu hiện suy thoái đạo đức và chiến lược "diễn biến hòa bình". Đồng thời, tác giả phân loại hai nhóm nhân tố tác động:

  • Nhân tố chủ quan: Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi dậy thì, khủng hoảng tuổi thanh thiếu niên, nhu cầu khẳng định "cái tôi", kỹ năng sống và năng lực tự kiềm chế chưa hoàn thiện.
  • Nhân tố khách quan: Môi trường gia đình, môi trường sư phạm nhà trường, điều kiện kinh tế - xã hội địa phương và sự phối hợp giữa các lực lượng xã hội.

Chương 2: Thực trạng giáo dục ý thức pháp luật của học sinh trường THPT Văn Lâm, Tỉnh Hưng Yên và nguyên nhân của thực trạng

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên và thực trạng giáo dục tại trường THPT Văn Lâm. Tỉnh Hưng Yên nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có truyền thống khoa bảng với 228 vị đỗ đại khoa qua các thời kỳ phong kiến. Theo số liệu của Cục Thống kê Hưng Yên tháng 3/2019, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,93%, tổng mức bán lẻ và dịch vụ tăng 14,23% so với cùng kỳ năm 2018.

Trường THPT Văn Lâm được thành lập ngày 21/06/1966 tại xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm. Tại thời điểm khảo sát, trường có 33 lớp với 1.271 học sinh thuộc ba khối 10, 11 và 12. Trường đạt tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp 100%, tỷ lệ học lực từ trung bình trở lên đạt 97%, tỷ lệ đỗ đại học có năm đạt trên 35%, và có 48 cựu học sinh đạt học vị tiến sĩ.

Về thực trạng giáo dục ý thức pháp luật:

  • Về tri thức: Môn GDCD được phân bổ 35 tiết/năm học, tập trung trang bị kiến thức pháp luật chuyên sâu ở khối 12. Nhà trường tổ chức diễn đàn trải nghiệm "Chúng tôi nói về chúng tôi" luân phiên giữa 33 lớp vào các buổi chào cờ thứ Hai; mời cán bộ Công an huyện về báo cáo chuyên đề. Tuy nhiên, Tủ sách pháp luật và Câu lạc bộ Sách hoạt động mờ nhạt, một bộ phận học sinh vẫn xem GDCD là môn phụ.
  • Về thái độ và hành vi: Tỷ lệ học sinh đạt hạnh kiểm khá và tốt chiếm từ 80% đến 89%; điểm trung bình môn GDCD đa số đạt từ 8,0 trở lên. Mặc dù vậy, tình trạng đi học muộn, trốn tiết, mất trật tự, dùng điện thoại trong giờ, quay cóp tài liệu vẫn xảy ra ở các lớp thường. Ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường còn kém (rác thải vứt bừa bãi tại lớp học, khu vực căng-tin và hồ nước của trường sau giờ ra chơi).
  • Về niềm tin và an toàn giao thông: Học sinh tin tưởng vào sự công bằng pháp luật nhưng việc thực hiện còn thụ động, mang tính đối phó. Đặc biệt, hơn 80% học sinh khi vắng bóng Cảnh sát Giao thông sẵn sàng vượt đèn đỏ, dàn hàng ba hàng bốn. Khoảng 70% đến 80% học sinh sử dụng xe mô tô có dung tích xi-lanh trên 50 cm³ đến trường, vi phạm Khoản 1 Điều 60 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

Nguyên nhân của thành tựu là nhờ đội ngũ giáo viên vững chuyên môn, Ban Giám hiệu chỉ đạo sát sao và truyền thống hiếu học của địa phương. Ngược lại, nguyên nhân của hạn chế bắt nguồn từ sự thiếu tự giác của học sinh, sự nuông chiều từ gia đình, tác động của mạng xã hội và sự phối hợp liên ngành chưa thường xuyên.

Chương 3: Một số biện pháp giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh trường THPT Văn Lâm, Tỉnh Hưng Yên hiện nay

Trên cơ sở phân tích nguyên nhân, Chương 3 đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy môn Giáo dục công dân: Cập nhật các văn bản luật mới ban hành, giảm tải lý thuyết hàn lâm, tích hợp các tình huống pháp lý thực tiễn gắn với đời sống học sinh; áp dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm, sắm vai xử lý tình huống pháp luật thay cho lối truyền thụ một chiều.
  2. Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh và hoàn thiện thiết chế hỗ trợ: Đa dạng hóa các sân chơi pháp lý học đường, trao quyền tự quản cho học sinh trong các câu lạc bộ; đầu tư kinh phí xây dựng, bổ sung đầu sách mới cho "Tủ sách pháp luật" tại thư viện trường, gắn văn hóa đọc pháp luật với phong trào thi đua của Đoàn Thanh niên.
  3. Phát huy vai trò của các chủ thể giáo dục: Đề nghị Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục phổ thông trên địa bàn; thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ, định kỳ giữa Gia đình – Nhà trường – Xã hội (chính quyền xã Lạc Đạo, Công an huyện Văn Lâm) trong việc quản lý, giám sát và giáo dục răn đe học sinh vi phạm.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa được bức tranh thực trạng về quy mô, chất lượng giáo dục cũng như mức độ vi phạm pháp luật của học sinh trường THPT Văn Lâm thông qua các chỉ số cụ thể:

Tiêu chí khảo sát / Chỉ số thống kê Dữ liệu ghi nhận trong văn bản Ghi chú / Căn cứ pháp lý
Quy mô học sinh toàn trường 1.271 học sinh / 33 lớp Khối 10, 11, 12
Tỷ lệ tốt nghiệp THPT nhiều năm 100% Báo cáo nội bộ nhà trường
Tỷ lệ xếp loại học tập từ trung bình trở lên 97% Báo cáo nội bộ nhà trường
Tỷ lệ học sinh đạt hạnh kiểm khá, tốt 89% (dao động 80% - 90%) Đánh giá hạnh kiểm toàn trường
Điểm trung bình môn GDCD Từ 8,0 trở lên (chiếm đa số) Đánh giá qua kiểm tra định kỳ
Tỷ lệ vi phạm dung tích xe máy (> 50 cm³) 70% - 80% học sinh Khoản 1 Điều 60 Luật GTĐB 2008
Tỷ lệ vi phạm vượt đèn đỏ, dàn hàng ngang Hơn 80% học sinh Khi không có CSGT giám sát

Về mặt đóng góp khoa học, tác giả tự nêu các giá trị:

  • Làm rõ và cụ thể hóa khung lý luận về ý thức pháp luật dưới lăng kính Triết học Mác – Lênin áp dụng trực tiếp cho đối tượng học sinh THPT.
  • Cập nhật số liệu thực tế giai đoạn 2015 – 2018 tại một trường THPT cấp huyện của tỉnh Hưng Yên, khắc phục khoảng trống thời gian so với các công trình nghiên cứu trước đó tại Yên Bái (2013) và Phú Thọ (2008).
  • Đề xuất hệ thống biện pháp mang tính khả thi, gắn liền với chương trình đổi mới giáo dục phổ thông và điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của tỉnh Hưng Yên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế do điều kiện thời gian và phạm vi nghiên cứu của tác giả:

  • Dữ liệu khảo sát thực nghiệm chỉ giới hạn tại một trường học duy nhất (THPT Văn Lâm) trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, chưa thực hiện khảo sát đối chứng trên diện rộng với các trường THPT khác trong tỉnh.
  • Phương pháp phân tích chủ yếu dựa trên số liệu thống kê mô tả và quan sát sư phạm, chưa áp dụng các mô hình định lượng phức tạp (như phân tích nhân tố khám phá EFA hoặc mô hình hồi quy tuyến tính) để đo lường trọng số tác động của từng yếu tố đến ý thức pháp luật.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát liên trường, so sánh sự khác biệt về ý thức pháp luật giữa học sinh khu vực nông thôn và khu vực đô thị hóa nhanh tại Hưng Yên.
  • Đánh giá tác động dài hạn của việc đưa môn GDCD vào kỳ thi THPT Quốc gia đối với sự chuyển biến hành vi pháp luật thực tế của học sinh sau khi tốt nghiệp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Triết học, Giáo dục Chính trị, Sư phạm Giáo dục Công dân và Quản lý giáo dục tham khảo cấu trúc đề tài và cách tiếp cận lý luận về ý thức xã hội / ý thức pháp luật.
  • Giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD tại các trường THPT tham khảo phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm ("Chúng tôi nói về chúng tôi") và cách thức tích hợp kiến thức pháp luật vào bài giảng.
  • Cán bộ quản lý trường học, Ban Chấp hành Đoàn trường THPT trong việc xây dựng kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật và quản lý trật tự, nề nếp học đường.

Các phần có giá trị tham khảo cao nhất gồm: mục phân tích kết cấu ba thành tố của ý thức pháp luật tại Chương 1 và bộ số liệu khảo sát thực tế về hành vi tham gia giao thông của học sinh tại Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận xác định kết cấu của ý thức pháp luật gồm những thành tố nào?
Theo tác giả, ý thức pháp luật gồm ba yếu tố cấu thành có quan hệ biện chứng: tri thức pháp luật (yếu tố cơ bản, cốt lõi nhất), tình cảm pháp luật (thái độ, cảm xúc đối với pháp luật) và ý chí pháp luật (mặt năng động, thể hiện sự tự giác làm chủ hành vi theo chuẩn mực pháp lý).

2. Môn Giáo dục Công dân tại trường THPT Văn Lâm được bố trí thời lượng như thế nào và tập trung vào khối lớp nào?
Môn Giáo dục Công dân tại trường được giảng dạy ở cả ba khối với thời lượng 35 tiết/năm học/khối/lớp, trong đó nội dung kiến thức pháp luật được phân bổ tập trung chủ yếu trong chương trình lớp 12.

3. Tác giả ghi nhận những con số cụ thể nào về tình trạng vi phạm Luật Giao thông đường bộ của học sinh trường THPT Văn Lâm?
Khóa luận ghi nhận: khoảng 70% đến 80% học sinh điều khiển xe mô tô có dung tích xi-lanh trên 50 cm³ đến trường (vi phạm Khoản 1 Điều 60 Luật Giao thông đường bộ 2008), và hơn 80% học sinh có biểu hiện vượt đèn đỏ hoặc đi hàng ba, hàng bốn khi không có lực lượng Cảnh sát Giao thông kiểm soát.

4. Mô hình ngoại khóa nào được nhà trường duy trì định kỳ vào sáng thứ Hai hàng tuần?
Đó là hoạt động trải nghiệm "Chúng tôi nói về chúng tôi" do học sinh của 33 lớp tự lên ý tưởng và luân phiên tổ chức trong giờ chào cờ theo phân công của Đoàn trường, tạo diễn đàn để học sinh trao đổi về các vấn đề xã hội và pháp luật.

5. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp nào tại Chương 3 để nâng cao ý thức pháp luật cho học sinh?
Ba nhóm giải pháp gồm: (1) Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy môn GDCD; (2) Phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh kết hợp xây dựng, củng cố Tủ sách pháp luật; (3) Tăng cường sự lãnh đạo của chính quyền địa phương và gắn kết ba môi trường giáo dục: Gia đình – Nhà trường – Xã hội.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Linh đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh trường THPT Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên dưới góc độ chuyên ngành Triết học. Công trình đã làm rõ cơ sở lý luận, phản ánh trung thực thực trạng nhận thức và các vi phạm pháp luật phổ biến của học sinh giai đoạn 2015 – 2018. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức và văn hóa pháp lý học đường tại địa phương.