Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái quát chung về văn học thiếu nhi 1. Khái niệm văn học thiếu nhi Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, văn học thiếu nhi theo nghĩa hẹp gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi. Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm một phạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường (cho ngưới lớn) đã đi vào phạm vi đọc của thiếu nhi… Bách khoa thư Văn học thiếu nhi Việt Nam quan niệm về văn học thiếu nhi tường tận hơn, chi tiết hơn.
Khái niệm văn học thiếu nhi được nhận diện ở nhiều góc độ: chủ đề sáng tác, nhân vật trung tâm, mục đích sáng tác, đối tượng tiếp nhận…Cụ thể: - Mọi tác phẩm được mọi nhà sáng tạo ra với mục đích giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, tính cách cho thiếu nhi. Nhân vật trung tâm của nó là thiếu nhi, và đôi khi cũng là người lớn, hoặc là một cơn gió, một loài vật, một đồ vật, một cái cây… Tác giả của văn học thiếu nhi không chỉ là chính các em mà cũng là các nhà văn thuộc mọi lứa tuổi. [10; trang 6] - Những tác phẩm mà thiếu nhi thích thú tìm đọc. Bởi vì các em đã tìm thấy trong đó cách nghĩ cách cảm cùng những hành động gần gũi với cách nghĩ cách cảm và cách hành động của chính các em, hơn thế, các en còn tìm được ở trong đso một lời nhắc nhở, một sự răn dạy, với những nguồn động viên khích lệ, những sự dẫn dắt ý nhị, bổ ích… trong quá trình hoàn thiện tính cách của mình.
[10; trang 6] 8 Như vậy, văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trung tâm hoặc là thiếu nhi, hoặc là người lớn, hoặc là thế giới tự nhiên… nhưng được nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ, có nội dung gần gũi, quen thuộc với vốn trải nghiệm của trẻ, được các em thích thú, say mê và có tác dụng hoàn thiện đạo đức, tâm hồn cho trẻ.2 Văn học thiếu nhi Việt Nam trong chương trình Tiểu học Những tác phẩm văn học thiếu được biên soạn trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học đa phần là các tác phẩm văn học hoàn chỉnh hoặc một phần trích đoạn từ tác phẩm văn học của các tác giả Việt Nam và thế giới. Văn học thiếu nhi có vai trò to lớn trong việc giáo dục toàn diện cho thiếu nhi về đạo đức, trí tuệ, và thẩm mỹ. Trong đó, các tác phẩm văn học thiếu nhi Việt Nam chiếm một phần lớn trong chương trình học. Văn học thiếu nhi Việt Nam trong chương trình Tiểu học đa số là thơ, các đoạn trích văn xuôi của một số tác giả Việt Nam ngoài ra còn có mảng văn học dân gian phân bố ở các khối lớp theo từng chủ điểm.
Ở đây chúng tôi xin chỉ nêu cụ thể về phần thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5. Lớp 1: Ở học kì 1 do đặc điểm là các em mới học cách đánh vần, ghép chữ và làm quen đọc trơn văn bản, nên trong SGK chưa có các bài thơ hoàn chỉnh mà chỉ có những đoạn thơ ngắn ứng dụng cho bài mới. Kì 2, gồm 20 bài thơ, với nhiều thể thơ: 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, thất ngôn tứ tuyệt. Ví dụ: “Ai dậy sớm”,” Mời vào” (Võ Quảng), “Xỉa cá mè” (Phạm Hổ), “Kể cho bé nghe” (Trần Đăng Khoa), “Tặng cháu” (Hồ Chí Minh)…các bài thơ thuộc các chủ điểm Gia đình, Nhà trường và Thiên nhiên đất nước giáo dục cho các em tình cảm gia đình, tình thầy trò, tình bạn, cùng với đó là xây dựng bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước.
Lớp 2: gồm 23 bài thơ, với nhiều thể thơ: 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, lục bát. Ví dụ: “Cái trống trường em” (Thanh Hào), “Thương ông” (Tú Mỡ), “Ông và cháu” (Phạm Cúc), “Cháu nhớ Bác Hồ” (Thanh Hải),…các bài thơ thuộc các chủ điểm 9 Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Ông bà, Cha mẹ, Anh em, Bạn trong nhà hoặc các chủ điểm liên quan đến thiên nhiên như Bốn mùa, Chim chóc,…cùng con người như Bác Hồ, Nhân dân. Thông qua các bài thơ ở các chủ điểm khác nhau, tiếp tục xoáy sâu vào các mối quan hệ gia đình, mối quan hệ xã hội của học sinh, từ đó giáo dục đạo đức, tình cảm, cách ứng xử. Bên cạnh đó, bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người, Bác Hồ.
Lớp 3: gồm 37 bài thơ, các thể thơ như 4 chữ, 8 chữ, lục bát. Ví dụ: “Vẽ quê hương” (Định Hải), “Hai bàn tay em” (Huy Cận), “Nhớ Việt Bắc” (Tố Hữu),… thuộc các chủ điểm Măng non, Mái ấm, Tới trường, Cộng đồng, Quê hương,…giáo dục các em tình yêu gia đình, trường lớp, quê hương, cách đối xử chân thành với mọi người qua đó rèn luyện các phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Lớp 4: gồm 25 bài thơ, các thể thơ như 4 chữ, 5 chữ,6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, lục bát. Ví dụ: “Đôi que đan” (Phạm Hổ), “Nếu chúng mình có phép lạ” (Định Hải), “Đoàn thuyền đánh cá” (Huy Cận),…thuộc các chủ điểm Thương người như thể thương thân, Trên đôi cánh ước mơ, Khám phá thế giới, Tình yêu cuộc sống,…qua các bài thơ, học sinh học tập được những phẩm chất đạo đức đáng quý, cách sống hòa đồng bên cạnh đó khơi gợi niềm đam mê, sáng tạo, tìm tòi những điều mới lạ về cuộc.
Lớp 5: gồm 24 bài thơ với các thể thơ như 4 chữ, 7 chữ, lục bát, tự do,… Ví dụ: “Sắc màu em yêu” (Phạm Đình Ân), Chú đi tuần (Trần Ngọc), “Đất nước” (Nguyễn ĐÌnh Thi), “Về ngôi nhà đang xây” (Đồng Xuân Lan),…thuộc các chủ điểm Việt Nam- Tổ quốc em, Cánh chim hòa bình, Con người với thiên nhiên,…tiếp tục giáo dục, rèn luyện cho các em những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, giúp các em nhận thức được quyền và trách nhiệm của mình khi đang là một học sinh Tiểu học, bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước. Riêng đối với nhà thơ Trần Đăng Khoa, ông có rất nhiều tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa Tiếng Việt của Tiểu học như: “Ò…ó…o”, “Kể cho bé nghe”, “Khi mẹ vắng nhà”, “Hạt gạo làng ta”, “Trăng ơi từ đâu đến”,… Các 10 tác phẩm dàn trải đều từ lớp 1 đến lớp 5 đủ cho ta thấy tầm quan trọng, sức ảnh hưởng của thơ Trần Đăng Khoa đối với nền văn học thiếu nhi Việt Nam.3 Vai trò và ý nghĩa của văn học thiếu nhi Văn chương nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của con người. Định nghĩa nổi tiếng của nhà văn hiện thực Nga Macxim Gorki: “Văn học là nhân học trước hết nhấn mạnh đến mục đích của văn học là giúp con người hiểu được bản thân mình; nâng cao niềm tin vào bản thân và làm nảy sinh khát vọng đi tìm chân lí, dũng cảm đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, hướng tới cái đẹp, cái thiện của cuộc đời”. Văn chương chân chính phải phục vụ con người, phải phản ánh đời sống vật chất, tinh thần của con người với những niềm vui, nỗi đau đời thường.
Nhà thơ Tố Hữu nhận xét: “Văn học không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời. Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có”. Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của văn học. Nói đến chức năng giáo dục của văn học là nói đến khả năng dẫn dắt và định hướng.
Văn học đến với con người bằng con đường tình cảm. Nó đem lại cho người đọc những rung cảm sâu xa trước khung cảnh tươi đẹp của quê hương, đất nước, trước trạng thái muôn màu muôn vẻ của cuộc sống xung quanh và nhất là trước sự phong phú, đa dạng của thế giới tâm hồn. Văn chương chân chính có khả năng cảm hóa, nhân đạo hóa con người. Nó góp phần vào việc hình thành nhân cách, hoàn thiện đạo đức, giúp con người sống tốt đẹp hơn.
Các tác phẩm văn học đích thực có khả năng giáo dục rất lớn, xứng đáng là những người thầy, người bạn đáng tin cậy của chúng ta. Đối với thiếu nhi nói chung, học sinh Tiểu học nói riêng, văn học nghệ thuật giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của các em. Kha-li-nin nói: “Vấn đề giáo dục là một trong những vấn đề khó khăn nhất, những nhà sư phạm ưu tú nhất đều công nhận nó không những là một khoa học mà còn là một nghệ thuật”. Vậy thì trong quá trình giáo dục cho học sinh Tiểu học, bên cạnh các bộ môn khác như Đạo đức, Mỹ thuật, 11 Tự nhiên- Xã hội…, cần thấy được và phát huy tối đa sức mạnh giáo dục của các tác phẩm văn học, đặc biệt là các tác phẩm được trích trong Sách giáo khoa.
Như nhà thơ Hữu Thỉnh đã nhận định: “Văn học thiếu nhi rất quan trọng và không thể thiếu. Mỗi tác phẩm có giá trị được ví như một người thầy không những bồi dưỡng tâm hồn mà còn định hướng cho các em”. Từ văn học dân gian đến văn học viết, từ văn học nước nhà đến văn học thế giới, mỗi tác phẩm như một bài ca dịu ngọt, như một dòng suối mát lành tưới vào tâm hồn trẻ thơ. Ở lứa tuổi mà ý thức đang hình thành, nhân cách đang được định hình, tâm hồn và suy nghĩ còn ngây thơ, trong sáng, tư duy còn gắn liền với liên tưởng và tưởng tượng thì không gì gây tác động mạnh mẽ bằng những vần thơ, những áng văn giàu chất nhân văn và lấp lánh giá trị của nghệ thuật ngôn từ.
Tình yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu quê hương làng xóm cũng từ đó mà đâm chồi nảy lộc. Cảm nhận cuộc sống, thu thập kiến thức qua văn học chính là con đường tích cực và nhẹ nhàng để giáo dục học sinh Tiểu học trở thành những con người có sự phát triển toàn diện về nhân cách. Văn học đã mang đến cho các em những cái đẹp, những cái cao thượng, những tấm lòng nhân ái…để các em biết học hỏi những điều hay lẽ phải và trở thành người có ích cho cuộc sống. Nhưng song song đó các em còn biết phân biệt cái xấu, cái ác; cũng biết buồn vui giận hờn thâm chí căm ghét các nhân vật trong tác phẩm.
Từ đó, trẻ có cái nhìn chân thực về cuộc sống, rút ra những bài học làm người, cách đối nhân xử thế.