Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VA THUC TIEN CUA DE TAL 1. Cỡ sở Từ vựng học tiếng Vĩ( của việc làm giàu vốn từ ch học sinh Cách thức chính giúp học sinh làm giàu vốn từ của đề tài sẽ gắn với hệ thống bài học có nội dung kiến thức Từ vựng học của các bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 THCS. Dó là các bài: Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ; Trưởng từ vựng; Từ tượng hình, từ tượng thanh và bài Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội Sau đây là cơ sở Từ vựng học của các bài học đó. Khái niệm về từ, phân loại từ a) Khái niệm “Công trình nghiên cứu Cơ sở ngồn ngữ học và Tiếng Liệt (Mai Ngoc Chir chủ biên) đã đưa ra khái niệm về từ: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câ [I6,tr12] Ví dụ "Nhà, người, áo, cũng, nếu, sẽ, dì.
Đừng sắt, sản bay, da day, den si, dai nhách. 6) Don vị cấu tạo từ Dom vị cơ sở để tạo từ tiếng Việt ing, cai mà ngữ âm học vẫn gọi là các âm tiết Mặc dù nguyên tắc phổ biển là các từ được cấu tạo từ các hình vị, nhưng hình vị trong các ngôn ngữ khác nhau có thể không như nhau. “Tiếng” của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình vị trong ngôn ngữ. khác, và người ta gọi chúng là những hình tiết ~ âm tiết có giá trị hình thái học.
Về hình thức, nó trùng với âm đoạn phát âm tự nhiên, được gọi là âm tiết. Về nội dung. nó là đơn vị nhỏ nhất có nội dung được thể hiện. Chí nó cũng có giá trị hình thái học (cầu tạo từ).
Sự có mặt hay vắng mặt của một tiếng trong một “chuỗi lời nói ra” ảo đó, bao giờ cũng đem tác động nhất định về mặt này hay mặt khác. Vi du: D6 - do dé - dé din ~ dé ree ~ dé kh ~ đỏ sẫm. ịt ~ chân vịt ~ chân con vịt ©) Phân loại từ Cho đến nay, nhiều tác giả đã thừa nhận sự tồn tại của các từ nhiều âm tiết trong tiếng Việt và tiến hành phân loại chúng theo các tiêu chuẩn số lượng, tinh chỉ và quan hệ giữa cá lu tạo, gồm có 2 loại: từ đơn và từ phức (từ ghép và từ láy) + Từ đơn Phương thức dùng một tiếng làm một từ sẽ cho ta các từ đơn (còn gọi là từ đơn âm tiếu. Vậy từ đơn ở đây được hiểu là những từ được cấu tạo bằng một tiếng.
Ví dụ: tôi, bắc, người, nhà, cây, hoa, trâu, ngưa, đi, chạy, cười, đùa, vui, buổn, hay. đẹp, vi, néu, da, dang. * Từ ghép Phương th tổ hợp (ghép) các tiếng lại, mã giữa các tiếng (thành tổ cấu tao) đồ là quan hệ về nghĩa với nhau, sẽ cho ta những từ gọi là từ ghép. Dựa vào tính chất của mỗi quan hệ về nghĩa giữa các thành tố cấu tạo, có thể phân loại từ ghép.
tiếng Việt như sau: Từ ghép đẳng lập. Dây là những từ mà các thành tổ cấu tạo có mỗi quan hệ bình đẳng với nhau về nghĩa. Ở đây, có thể lưu ý tới hai khả năng. Thứ nhất, các thành tố cấu tạo trong từ đều rõ nghĩa.
Khi dùng mỗi thành tố như vậy dé cầu tạo từ đơn thi ng la củ từ đơn và nghĩa ủa các thành tố này không trùng nhau. í dụ: So sánh: ăn # ăn ở # ăn nói #ở # nồi. 'hứ hai, một thành tổ rõ nghĩa tổ hợp với các thành tố không rõ nghĩa. âu hết các trường hợp, những yếu tổ không rõ nghĩa này vốn rõ nghĩa nhưng sau bị bảo mòn dần đi ở các mức độ khác nhau.
Bằng con đường tìm tòi từ lịch sử, người ta thường xác định được nghĩa của chúng. Ví dụ: chợ búa, bắp núc, đường số, tre pheo, có rả, sầu muộn, ché ma, ga qué, cá múi, xe cộ, áo xống. “Từ ghép đẳng lập biểu thị ý nghĩa khái quát và tổng hợp. Day là một trong những điểm làm cho nó khác với các từ ghép chính phụ Từ ghép chính phụ.
Những từ ghép mà có thành tổ cấu tạo này phụ thuộc vào. thành tố cấu tạo kia, đều được gọi là từ ghép chính phụ. Thành tố phụ có vai trỏ phân loại, chuyên biệt hóa, sắc thái hóa cho thành tố chính. Ví dụ: zàu hóa, đường.
sắt, sân bay, hàng không, nông sản, cà chua, máy cái, dưa hấu, cỏ gà, xâu bụng, tốt „mã, lão hỏa, xanh lè, đỏ rực, ngay do, thẳng tắp, sương vi * Từ láy Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hòa phối ngữ âm cho ta các từ láy. Tir lay tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn có loại ba tiếng. Tuy nhiên loại đầu tiên là loại tiêu biểu nhất cho từ láy và phương thức láy của tiếng Việt Một từ được gọi là từ láy khi c: yếu tố lu tạo nên chúng có thành phần ngữ. âm được lặp lại; nhưng vừa có lặp (còn goi là điệp) vừa có biển đổi (còn gọi là đổi).
Ví đụ: đồ đắn ¡p phan am dau va di & phan van. Vi thể, nếu chi có điệp mả không có đổi (chẳng hạn như: người người, nhà nhà, ngành ngành.) thì ta có dạng láy của từ chứ không phải là tir láy. Kết hợp tiêu chí về số lượng tiếng với cách láy, theo Cơ sở ngồn ngữ học và Tiếng Việt (Mai Ngọc Chữ chủ biên) phân loại từ lá nhu sau: Lay hai tiếng (trong láy hai tiếng có láy hoàn toàn và láy bộ phận), láy ba tiếng và bắn tiếng. Trên thực tế, số lượng láy ba tiếng và bốn tiếng không nhiều.
Mặt khác, có thé coi chúng là hệ quả, là bước “tiếp theo” trên cơ chế láy của từ láy hai tiếng mà thôi. 4) Cấp độ khải quát nghĩa của từ Nghiên cứu cấp độ Từ vựng học, ta nhận thấy ngôn ngữ có hai mặt: mặt biểu hiện (âm thanh) và mặt được biểu hiện (nội dung). Nghĩa của từ thuộc vẻ mặt thứ hai. ụ, từ "cây” tong tiếng Việt có vỏ ngữ âm như ta đọc lên, và từ này có nội dung và có nghĩa của nó.
Khái niêm nghĩa của từ trong Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt (Mai Ngọc Chữ, chủ biên) định nghĩa như sau: “Nghĩa ctia tit 1d những liên hệ được xác lập trong nhận thức của chúng ta giữa từ với những cái mà nó (từ) chỉ ra (những cái mà nó làm tin higu cho)” (16, tr.16T] Nghĩa của từ tồn tại trong từ, nói rộng ra là trong hệ thống ngôn ngữ. Nghĩa của từ không tồn tại trong ý thức, trong bộ óc con người. “Trong ý thức, trong tư duy của con người chỉ có những hoạt động nl ân thức, hoạt động tư duy. mà thôi Điều nà ngụ ý rằng: trong ý thứ trong bộ óc trí tuệ con người chỉ tồn tại sự hiểu biết về nghĩa của từ chứ không phải nghĩa của từ” [16, t.168] “Từ có liên hệ với nhiều nhân tố, nhiễu hiện tượng.
Bởi thé nghĩa của từ cũng không phải là một thành phần, một kiểu loại. Khi nói về nghĩa của từ, người ta thường phân biệt các thành phần nghĩa: Nghia biéu vật: "là mối liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thu¿ tính, hành đông.) mà nó chỉ ra. Bản thân sự vật, thuộc tính, hành đông. đó người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật.
Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực; hữu hình bay võ hình; có bản chất vật chất hoặc phi vat chat” [16, tr 168]. Vi dụ: đát trời, mưa, nẵng, nóng, lạnh, ma, qug), thánh, thân, thiên đường, địa ngục. Nghĩa biểu niệm: "là mỗi liên hệ giữa từ với ý. Cái ý đó người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh các thuộc tính của biểu vật vào trong ý thức.
con người)” [16, tr 168] Cần phân biệt nghĩa của từ với khái niệm. Nghĩa và khái niệm gắn bỏ với nhau rất mật thiết, nhưng nói chung là chúng không trùng nhau. “Khái niệm là một kết quả của quá trình nhận thức, phản ánh những đặc trưng chung nhất, khái quát nhất, bản chất nhất của sự vật, hiện tượng. Người ta có được khái niệm chủ yếu là nhờ những khám phá, tim tòi khoa học.
Noi dung của một khái niệm có thé rat rong, rit su, tiệm cận tới chân lí khoa học; và có thể được. diễn đạt bằng hàng loạt những ý kiến khác nhau. Mặt khác, rõ ràng là không phải khái niệm nào cũng được phản ánh bằng từ; nó có thể được biểu hiện bằng hơn một từ. Ví dụ: nước cứng; tổ hợp qui đạo; máy gặt đập liên hợp; công.
nghệ sinh học. “Nghĩa của từ cũng phản ánh những đặc trưng chung, khái quát của sự vật, hiện tượng do con người nhận thức được trong đời sống thực tiễn tự nhiên và xã hội. Tuy nhiên, nó có thể là chưa phái là kết quả của nhận thức đã tiệm cận tới chân 1í khoa học. Vi thế, sự vật hiện tượng nào ít được nghiên cứu, khám phá thì nhận thức về nó được phản ánh trong nghĩa của từ gọi tên nó, cảng xa với khái niệm khoa học ” [16, tr.1701 Bên cạnh đó, ta thấy rằng không phải từ nào cũng phả khái niệm (các thần từ và các từ công cụ ngữ pháp chẳng hạn) và trong nghĩa của từ còn có thé ham chứa cả sự đánh giá về mặt này hay mặt khác, có thể chứa cả cảm xúc và thái độ của con người 1.
Vấn đề trường từ vựng. 4) Khái niệm Từ vựng của mỗi ngôn ngữ là một khối khổng lồ, phức tạp cả về cấu tạo lẫn ngữ nghĩa. Việc phân lập cái khối khổng lồ phức tạp ấy thành các trường từ vựng là được những quan hệ về nghĩa giữa các từ Tiếng Liệt gián yếu (Vũ Thị Ân - Nguyễn Thị Ly Kha, chủ biên), định nghĩa: “Trường từ vựng là tập hợp các từ có nét chung về nghĩa. Nói cách khác, một tập hợp từ theo tiêu chí về nghĩa gọi là một trường tir vung”.109] ‘Vi du: tap hop ác từ có chung nghĩa chỉ hoạt động “di chuyên dời chỗ” của người sẽ có những từ sau: di, chạy, nháy, lao, bò, phóng; tập hợp cỉ từ có nghĩa chỉ hoạt động "làm cho rời ra” sẽ có các từ: cất, chặt, bóc, róc (xước), xến, xéo,.109] b) Các loại trường từ vựng + Trưởng tyễn tính “Tập hợp các từ có thể kết hợp với các từ cho trước thành một chuỗi chip nhận được gọi là trường tuyển tính (hay còn gọi là trường nghĩa ngang) [30, tr.