CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QL CÔNG TÁC GDYĐ CHO HSSV 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐÈ QL CÔNG TÁC GDYĐ Đạo đức là một hính thái ý thức XH, xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử xã hội loài người Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống XH, trong đời sống của con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại phát triển: Đạo đức đã trở thành mục tiêu, đồng thời cũng là động lực đẻ phát triển XH [23] và Đạo đức cũng như ý thức đã là sản phẩm xã hội và vẫn là như vậy chừng nào con người còn ton tại [6] Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu những quan điểm đạo đức Mác — Lê Nin và thật sự làm một cuộc cách mang trên lĩnh vực đạo đức. Người gọi đó là “đạo đức mớï”, “Đạo đức Cách mạng”: Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải là danh vọng của cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người [15]. Y đức là nhánh nghiên cứu đề cập đến vấn đề đạo đức trong thực hành y học.
Các nguyên lý về đạo đức y học là cơ sở cho mọi lý luận và quy định về đạo đức trong thực hành chuyên môn và nghiên cứu khoa học cho tắt cả nhân viên y tẾ. Đã có nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu xung quanh chủ đề này: Ở góc độ đạo đức học, các giáo trình của các tác giả như sau: “ Giáo. trình đạo đức học Mác- Lê nin” của Vũ Trọng Dung( chủ biên) Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tái bản năm 2006; “ Giáo trình đạo đức trong nha trường” của Hà Thế Ngữ- Đặng Vũ Hoạt ( 1988); “ Giáo trình đạo đức học” của Phạm Khắc Chương- Hà Nhật Thăng nhà xuất bản Giáo dục năm 2001,. Vấn để GDĐĐ có: “ Đạo đức mới” của Vũ Khiêu (chủ biên), 1974; * Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” của Thái Duy Tuyên ( chủ biên), 1994; “ Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” của Hà Nhật Thăng, 1998,.
Ở góc độ quản lý GDĐĐ có: “ Quản lý trường học” của Hà Sĩ Hồ, 1985; * Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục của Đặng Quốc Bảo; Vũ Dũng, Phùng Đình Mẫn (2007), Tâm lý học quản lý, Nhà Xuất bản Giáo dục ( 2007); Giáo trình “ Những vấn đề cơ bản về khoa học Quản lý và Quản lý giáo dục” của Huỳnh Thị Thu Hằng, 2008. Quyết định số 50/2007/QĐ-BGDĐT ngày 29/8/2007 của Bộ trưởng Bộ dục và Đào tạo về Quy định về công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống cho học sinh sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp. Về đạo đức cán bộ y tế (Y đức) từ thời cô Hy Lạp (460-370 TCN), Hypocrate khi bước vào hành nghề y đã tuyên thệ với lời thề “ Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết”. Tại Việt Nam dau thé ky XVIII, danh y Việt Nam Lê Hữu Trác có biệt hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1720-1791) đã nêu trong cuốn Âm án và Dương án, 8 đức tính của người người làm nghề y: Nhân, Minh, Trí, Đức, Thành, Lương, Khiêm, Cần và 8 điều tội lỗi của người hành nghề Y phải tránh: Lười, keo kiệt — bin xin, tham, lừa dối, bất nhân, hẹp hòi, thất đức, đốt [20].
Trong thư gửi cán bộ y tế ngày 27/02/1955, Bác Hồ đã dạy chúng ta rằng: Cần phải yêu thương săn sóc người bệnh như anh, em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn, lương y phải như từ mẫu. Ngày 06 tháng 11 năm 1996, Bộ Y Tế đã ban hành “Quy định về Y đức” đã nêu rõ rằng: Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tỉnh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh, coi họ đau đớn như mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lương y phải như từ mẫu”. Phải thật thà, đoàn kết, khắc phục khó khăn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm, toàn ý xây dựng nền Y học Việt Nam. Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận [3].TS Lê Ngọc Trọng, nguyên Thứ trưởng Bộ Y Tế trong bài viết thi đưa thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chi Minh “Lương y phải như từ mẫu” đã nêu những tắm gương, những thầy thuốc, thầy giáo hết lòng phục vụ sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, đồng thời, cũng nêu ra một số giải pháp nhằm nâng cao Y đức trong giai đoạn hiện nay [4].
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước và công cuộc. xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta ở thế kỷ XX đã có biết bao thầy thuốc, thầy giáo là tắm gương tiêu biểu về Y đức, đó là Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Tôn Thất Bách, Đặng Thùy Trâm. đã đóng, góp hết khả năng của mình cho sự nghiệp giáo dục, giải phóng đất nước, xây dựng ngành y tế và giúp cho sức khỏe của nhân dân ta không ngừng được cải thiện, tuổi thọ người dân ngày càng cao. Ngày nay, đất nước ta đã thanh bình, đang trong quá trình phát triển, hội nhập.
Bên cạnh rất nhiều tắm gương sáng tận tụy vì sự nghiệp sức khỏe nhân dân, ngành Y tế vẫn còn một số người lơ là trong rèn luyện Y đức và lối sống, thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của người bệnh, coi nặng kinh tế, lợi dụng cơ chế thị trường, kinh doanh trên người bệnh. Hiện tượng ban ơn, tiêu cực của cán bộ y tế đã và đang xảy ra theo chiều hướng gia tăng. Các biểu hiện đó đều trái với Y đức của người cán bộ y tế, làm giảm lòng tin của nhân dân vào tính ưu việt của nền y tế XHCN. Chính vì vậy, việc GDYĐ cho HSSV trường y, khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường là biện pháp đón đầu nhằm góp phần ngăn chặn những tiêu cực đã và đang xảy ra như hiện nay.
Nghiên cứu về công tác GDĐĐ, QL công tác GDĐĐ cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, các tác giả Vũ Tuấn Hiệp, Nguyễn Trọng Anh. đã đề xuất phương hướng, mục tiêu, biện pháp giáo dục nếp sống, đạo đức cho sinh viên, đổi mới công tác GDĐĐ, giáo dục pháp luật để mỗi sinh viên dù ở. hoàn cảnh nào, cũng tự giác thực hiện theo chuẩn mực đạo đức, phát huy vai trò tự quản của tập thể và cá nhân HSSV. vạch rõ vai trò, trách nhiệm của từng đối tượng tham gia quản lý công tác GDĐĐ [22].
Nghiên cứu công tác GDYDD, QLGDYD cho các sinh viên trường y tế ngoài những biện pháp GDĐĐ nói chung, nhà trường chủ động kết hợp với các cơ sở thực tập tạo điều kiện cho sinh viên rèn luyện Y đức [16]. Phát huy vai trò phối hợp giữa nhà trường- cơ sở thực tập-gia đình- xã hội và tự quản của sinh viên [20] Nhìn tổng thể, các công trình nghiên cứu trên đây, được tiếp cận từ những góc độ khác nhau trên các đối tượng sinh viên các ngành, các lĩnh vực. Đề tài “Quản lý công tác giáo dục Y đức cho sinh viên Khoa Y- Dược trường Cao đẳng Phương Đông Đà Nẵng” mang tính đặc thù riêng, có ý nghĩa cơ bản và cấp thiết trong các trường đào tạo cán bộ y tế.CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐÈ TÀI 1. Quản lý 'Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau.
Một số tác giả tiếp cận theo đường lối quản lý hệ thống, lại có tác giả tiếp cận theo chức năng, vì vậy, cũng có những định nghĩa khác nhau: 10 Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, ý kiến của Paul Herscy va Ken Blane Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” đã nêu: Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tô chức. Xét quản lý với tư cách là một hành động, Vũ Ngọc Hải cho rằng: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra [7]. Như vậy, có thể khái quát rằng: “ Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” Xét theo chức năng quản lý, hoạt động quản lý thường được định nghĩa: * Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tô chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Bốn chức năng cơ bản: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra — đánh giá có liên quan mật thiết với nhau.
Thông tin là một nguồn lực, là mạch máu, là trái tìm của người quản lý. Quản lý giáo dục Đã có rất nhiều khái niệm về quản lý giáo dục trên nhiều khía cạnh khác nhau: - M.LKondacop cho rằng: Quản lý giáo dục là tập hợp tất cả các biện pháp tổ chức, kế hoạch hóa, công tác cán bộ. nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng [12] - Đặng Quốc Bảo quan niệm: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là: Hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đây mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội [2]. ~ Phạm Minh Hạc cho rằng: Quản lý giáo dục, quản lý trường học là một chuỗi tác động hợp lý, có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch, mang tính sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào hoạt động của nhà trường, làm cho quá trình này vận hành một cách tối ưu lệc hoàn thành các mục tiêu dự ién [5].
- Tran Kiém cho rằng quản lý giáo dục có thể được xem xét trên 2 cấp độ: Cấp độ vĩ mô là quản lý hệ thống giáo dục và cấp độ vi mô là quản lý nhà trường [9].