Chương 1. Cơ sở lý luận về nghiên cứu Chương 2. Thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức ở trường Cao đăng nghề Đà Nẵng Chương 3. Biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức ở trường Cao đăng nghề Da Ning Phân 3: Kết luận và khuyến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục nghiên cứu CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY CONG TAC GIAO DUC DAO DUC CHO HSSV TRUONG CAO DANG, DAL HQC 1.
TONG QUAN NGHIEN CUU VAN DE Đạo đức, giáo dục đạo đức là yêu cầu khách quan của sự nghiệp "trồng người", nó giúp đào tạo ra thế hệ vừa "hồng" vừa "chuyên" nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Đối với Việt Nam, trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, các giá trị đạo đức trong truyền thông và hiện đại vẫn giữ một vai trò quan trọng. Công nghiệp hóa là một quá trình tit yếu nhằm tạo nên những chuyền biến căn bản về kinh tế - xã hội của đất nước trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở ‘ong quan hệ kinh tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với trình độ khoa học - công nghệ ngày càng hiện đại. Nhưng trong những năm gần đây, tình trạng vi phạm đạo đức trong thanh niên, HSSV ngày càng có xu hướng gia tăng, các hành vi vi phạm đạo.
đức của HSSV diễn ra ngày càng nhiều như: vi phạm pháp luật, đánh nhau, uống rượu bia, cờ bạc, 'ôm cắp. Chưa kể một số hành vi lệch chuẩn về mặt đạo đức như lệch lạc về tư tưởng, phong cách, đạo đức, lối sống, thiếu tôn trọng thầy cô, sống hưởng thụ, ăn chơi, sống thử, lười học và lười lao động, thiếu ý thức rèn luyện bản thân. Những vấn đề này đặt ra cho gia đình, nhà trường và toàn xã hội nhiều vấn đề cấp bách về giáo dục đạo đức cho học sinh, HSSV. Đảng ta đã nhận địni “Dac biệt đáng lo ngại là một bộ phận HSSV có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp”.
Trước tình hình đó, việc tăng cường quản lý công tác GDĐĐ cho HSSV trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. 10 Trong những năm qua, vấn đề đạo đức và GDĐĐ trong nhà trường đã được nhiều tác giả quan tâm, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu vấn đề đạo đức như: Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, Hà Nhật Thăng, Huỳnh Khải, Nguyễn Hữu Công. Công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Hạc và các cộng sự về phát triển con người Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH đã có một chương bàn về đạo đức, GDĐĐ, các giải pháp nâng cao hiệu quả GDĐĐ. trong giai đoạn hiện nay [10] Tác giả Hà Nhật Thăng nhắn mạnh GDĐĐ được coi là một bộ phận có ý nghĩa quan trọng trong phát triển nguồn lực con người; Tác giả Đặng Vũ Hoạt nghiên cứu về vai trò của giáo viên chủ nhiệm, tác giả đã khẳng định vai trò của giáo viên chủ nhiệm, trong quá trình GDĐĐ cho học sinh và đưa ra những định hướng cho giáo viên chủ nhiệm, trong việc đổi mới nội dung phương pháp GDĐĐ cho học sinh trong nhà trường phổ thông.
Tác giả Huỳnh Khải Vinh đã nghiên cứu một cách có hệ thống những van dé co ban của lối sống, đạo đức, chuẩn mực giá trị xã hội; mối quan hệ giữa lối ng, đạo đức với phát triển văn hoá con người; sự tác động của các nhân tổ chính trị, kinh tế, xã hội với lối sóng, đạo đức [37]. Nghiên cứu đến thực trạng đạo đức của học sinh trung học cơ sở, tác giả Pham Trung Thanh [26] đưa ra 10 kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng, GDĐĐ cho học sinh hiện nay, cũng như yêu cầu các nhà giáo, các nhà quản lý giáo dục phải nâng cao tỉnh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong việc tổ chức các hoạt động để thu hút học sinh vào việc giáo dục rèn luyện đạo đức. Tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng, một vấn đề cấp bách trong giáo dục hiện nay là tăng cường GDĐĐ. Sau khi phân tích sự biế ôi kinh tế - xã hội, thực trạng, đạo đức của học sinh hiện nay, tác giả đề xuất một số đổi mới về nội dung, phương pháp đặc biệt là việc quản lý của gia đình đối với học sinh [34].
1I Gần đây phải kể đến một số luận văn thạc sĩ khoa học đã có những nghiên cứu xung quanh vấn đề này như sau: “Nâng cao hiệu quả quản lÿ giáo dục HSSV” của Lưu Văn Kim. Tác giả đề cập đến việc nâng cao hiệu quả quản lý, giáo dục HSSV, bồi dưỡng năng lực phẩm chất cho đội ngũ HSSV - những người chủ tương lai của đất nước. Nghiên cứu về GDĐĐ, quản lý công tác GDĐĐ cho HSSV các trường Đại học, Cao đẳng, các tác giả Cao Đình Trúc [33], Vũ Tuấn Hiệp [12], Nguyễn Trọng Anh [2].Đã đề xuất phương hướng, mục tiêu, biện pháp giáo dục nếp sống, đạo đức cho HSSV, đổi mới công tác GDĐĐ, giáo dục pháp luật để mỗi HSSV dù ở hoàn cảnh nào, cũng tự giác thực hiện theo chuẩn mực đạo đức, Phát huy vai trò tự quản của tập thể và cá nhân HSSV., vạch rõ vai trò, trách nhiệm của từng đối tượng tham gia quản lý công tác GDĐĐ. Ngoài ra, một số tác giả đã nghiên cứu tập trung vào vấn đề quản lý GDDD cho HSSV như: - Đề tài “Các biện pháp quản lý giáo dục lối sống, đạo đức cho HSSV ở Ký túc xá Đại học Huế” của tác giả Nguyễn Thị Vân , năm 2002.
- Đề tài “Biện pháp quản Ìÿ nhằm tăng cường công tác GDĐĐ cho HSSI” Trường Đại học ngoại ngữ. Đại học Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Anh, năm 2005. - Đề tài “Các biện pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HSSV của trường Đại học sư phạm Đông Tháp” của tác giả Nguyễn Văn Son, năm 2007. - Đề tài “Các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Đại học Quy Nhơn” của tác giả Trần Xuân Cảnh, năm 2008.
Qua tổng kết các công trình nghiên cứu của các tác giả, chúng tôi nhận thấy các công trình trên đã hệ thống hóa lý luận về GDĐĐ, quản lý GDĐĐ, đưa ra được hệ thống các biện pháp quản lý GDĐĐ cho HSSV ở các trường đại học ở những địa phương cụ thể. Tuy nhiên chưa có tác giả nào bàn về 12 vấn đề quản lý công tác GDĐĐ cho học sinh sinh viên trường Cao đẳng nghề. Từ lý do trên, chúng tôi định hướng và xác định đề tài nghiên cứu “Biện pháp quan lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng nghề Đà Nẵng”. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐÈ TÀI 1.
Đạo đức, giáo dục đạo đức a. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, chuẩn mực của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người, vì sự tiền bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội. Quan niệm đạo đức hoàn toàn khác nhau khi xã hội có giai cấp, có đấu tranh giai cấp, quan điểm duy vật lịch sử về đạo đức của chủ nghĩa Mác đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo. Cùng quan điểm, ở những góc độ khác nhau của đời sống, cách nhìn nhận đạo đức cũng khác nhau.
Quan niệm đạo đức theo lý luận duy vật lịch sử: “Đạo đức là những hình thái ý thức xã hội, xuất hiện sớm nhất trong lịch sử loài người. Đạo đức là tổng hợp những quan niệm về thiện, ác, trung thực, giả dối, đáng khen, dang cùng với những quy tắc phù hợp với những quan niệm đó, nhằm điều chỉnh hành vi của con người đối với xã hội, đói với giai cấp, đối với Đảng và đối với người khác. Quan niệm của Duberstin và Linchevski: “Đạo đức là hình thái của sự nhận thức xã hội, là tắt cả những nguyên tắc, những quy định, tiêu chuân mà mọi người tuân theo trong hành vi của mình”. 13 Theo từ điển Tiếng Việt, đạo đức là những phép tắc, căn cứ vào chế độ kinh tế và chế độ chính trị mà đặt ra quy định quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể và xã hội, cốt để bảo vệ chế độ kinh tế và chế độ xã hội [36].
Dưới góc độ Triết học: “Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều hành vi của con người trong quan hệ với người khác và cộng đồng. Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi con người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa, phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự”. Dưới góc độ Đạo đức học: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuân mực xã hội”. Dưới góc độ Giáo dục học: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ giữa con người với con người”.
Quan điểm đạo đức của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là nhân, nghĩa, chí dũng, liêm. Đó là đạo đức cách mạng. Theo Người, đạo đức là sự thống nhất giữa tư tưởng và phong cách sống. Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đạo đức, song có thể khái quát chung như sau: Đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích của xã hội, vì hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với tập thể hay toàn xã hội.
Giáo dục đạo đức Trong xu thế hội nhập quốc tế, giáo dục nói chung và GDĐĐ nói riêng đang là mối quan tâm của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Trong sự phát triển nền giáo dục của mỗi nước, đồng thời với việc cập nhật thông tin khoa học, công 14 nghệ vào nhà trường, mỗi quốc gia còn cần phải quan tâm đến định hướng GDĐĐ và nhân văn cho thế hệ trẻ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc rèn luyện, giáo dục thế hệ trẻ, Người dạy: “Bây giờ phải học, học để yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức” [19].