phần mở đầu, kết luận, luận văn được bố cục gồm 4 chương, cụ thể như sau: 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA CHO ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ BÁC SỸ ĐA KHOA 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu có chủ đề liên quan tới đào tạo đội ngũ nhân lực y tế trong đó có bác sỹ đa khoa và các nghiên cứu về quản lý dự án cho đào tạo đội ngũ bác sỹ đa khoa. “Nghiên cứu về thực trạng đào tạo nhân lực y tế ở Việt Nam” do 3 trường Đại học Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội và trường Đại học Điều dưỡng Nam Định thực hiện, khảo sát trên 17 trường đại học, cao đẳng y tế và 10 tỉnh, thành trong năm 2012 - đã cung cấp những bằng chứng và xác định những lĩnh vực ưu tiên cần đổi mới trong giáo dục y khoa, điều dưỡng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra: Chương trình giáo dục y khoa hiện nay được đánh giá là có nhiều điểm hạn chế, bao gồm cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng (66%), thư viện chưa đáp ứng tốt (59%), điều kiện thực hành không đáp ứng (> 50%), máy tính không đủ (>50%) và dịch vụ học trực tuyến, có hình còn thiếu (80%). Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực y tế nói chung và đào tạo đội ngũ bác sỹ đa khoa nói riêng. Cần thiết trong việc nâng cấp cơ sở hạ tầng, cơ sở thực hành, các trang thiết bị phục vụ đào tạo, học tập ngành BSĐK. Trường Đại học Y Hà Nội (2012), với công trình nghiên cứu“báo cáo tự đánh giá các hoạt động tuyển sinh, giảng dạy và học tập của Trường” cho thấy trong 5 năm qua số lượng cán bộ giảng dạy không tăng, thậm chí có nhiều bộ môn có nguy cơ không tuyển được giảng viên bổ sung thay thế giảng viên nghỉ hưu như những bộ môn y học cơ sở và một số bộ môn y học l đặc thù như lao, 7 giải phẫu bệnh.
Thêm vào đó, cơ sở thực hành lâm sàng của các trường đại học, cao đẳng y không được mở rộng kịp thời và tương xứng với sự gia tăng về số lượng sinh viên làm cho các cơ sở thực hành trở nên quá tải, số sinh viên và học viên thực tập còn đông hơn bệnh nhân và nhân viên y tế của bệnh viện. Tình trạng này đặc biệt trầm trọng tại các cơ sở thực hành ở các thành phố lớn nơi có nhiều trường đào tạo nhân lực y tế đăng ký cho sinh viên thực tập lâm sàng và điều dưỡng, kỹ thuật y tế như ở Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh. Nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế tại 4 tỉnh cho thấy thực tế có lớp tập huấn nhưng không cử cán bộ tham dự được do thiếu người làm mặc dù có nhu cầu được đi học. Một trong những nguyên nhân dẫn đến năng lực của đội ngũ cán bộ y tế hạn chế là do: (i) ít cơ hội được tham gia các chương trình đào tạo liên tục cập nhật kiến thức; 38% cán bộ y tế cho biết không có cơ hội được đào tạo ngắn hạn/dài hạn; (ii) điều kiện làm việc khó khăn (26,0% bác sỹ làm việc tại trạm y tế xã đánh giá là cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế không đáp ứng được nhu cầu chuyên môn, thiếu kinh phí cho hoạt động chuyên môn, cơ chế tài chính không khuyến khích cán bộ y tế làm việc hiệu quả), khả năng làm việc nhóm hạn chế.
“Báo cáo hội thảo liên trường về giáo dục y học” tại Tuy Hòa năm 2012 do Dự án Hà Lan thực hiện đánh giá, khảo sát đã chỉ rõ dạy học tiền lâm sàng có vai trò quan trọng trong chuẩn bị những kỹ năng y khoa tối thiểu trước khi thực hành các kỹ năng y khoa tại các cơ sở khám chữa bệnh. Hệ thống dạy học kỹ năng tiền lâm sàng vẫn còn sơ sài, các mô hình học tiền lâm sàng do dự án hỗ trợ đã cũ và chỉ chủ yếu tập trung đào tạo một vài kỹ năng chứ chưa đủ các kỹ năng tiền lâm sàng cần thiết. Thực tế về cơ sở vật chất và tổ chức dạy học tiền lâm sàng còn nhiều khó khăn, các labo tiền lâm sàng còn thiếu mô hình, trang thiết 8 bị, quy trình và hướng dẫn dạy học, thiếu năng lực vận hành và bảo dưỡng mô hình để giúp nâng cao chất lượng huấn luyện và đảm bảo tính bền vững. So sánh giữa các cơ sở đào tạo, nguồn lực của các trường không đồng đều cả về năng lực của đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thực hành, dẫn tới chất lượng đào tạo của các trường không đồng đều.
Một số bệnh viện chỉ nhận hoặc ưu tiên nhận sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học lớn, có kinh nghiệm. Dạy học dựa trên năng lực cơ bản: các trường chủ yếu vẫn áp dụng các chương trình đào tạo dựa trên các khoa học cơ bản, tức là bao gồm các môn khoa học cơ bản, cơ sở, khoa học lâm sàng riêng lẻ, mà chưa dựa vào các năng lực cần có của một cán bộ y tế mới ra trường để có thiết kế, tổ chức đào tạo phù hợp. Kết luận chung về tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cho đề tài luận văn. Các nghiên cứu ở trên chỉ tập trung đến thực trạng đào tạo nguồn nhân lực y tế trong đó có BSĐK từ đó đưa ra những khuyến nghị, tìm giải pháp cải thiện chất lượng giáo dục nhân lực y tế mà chưa có nội dung hướng tới công tác quản lý dự án ODA cho lĩnh vực đào tạo BSĐK như đề tài tác giả đưa ra.
Đây cũng là một trong những khó khăn của tác giả trong việc tìm kiếm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu. Ngoài ra, các nghiên cứu chỉ ra những thực trạng cơ sở học tập, thực hành tiền lâm sàng và lâm sàng, trang thiết bị hỗ trợ đào tạo BSĐK để cung cấp những bằng chứng, những số liệu để kêu gọi các tổ chức, các nhà tài trợ hỗ trợ công tác đào tạo đội ngũ BSĐK mà chưa có nghiên cứu nào hướng tới công tác quản lý dự án, đặc biệt ở cấp Bộ Y tế, làm thế nào để lập kế hoạch dự án hỗ trợ đào tạo đội ngũ BSĐK, tổ chức bộ máy, điều hành triển khai dự án, phân bổ nguồn lực 9 hiệu quả để cải thiện công tác đào tạo, cơ sở vật chất, cơ sở thực hành, trang thiết bị giảng dạy, học tập ngành BSĐK. Từ những công trình trên đã giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về công tác triển khai dự án đào tạo đội ngũ BSĐK, thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện thực hành lâm sàng và tiền lâm sàng để đưa ra những phương pháp quản lý dự án hiệu quả khi đầu tư, hỗ trợ cho lĩnh vực đào tạo BSĐK. Điểm mới của nghiên cứu này là tác giả mạnh dạn đưa ra chủ đề mới liên quan đến công tác quản lý dự án, công tác phân bổ các nguồn lực để triển khai hỗ trợ hoạt động đào tạo đội ngũ BSĐK.
Đến nay, chưa có nghiên cứu nào hướng tới nội dung quản lý dự án ODA cho đội ngũ BSĐK mà các nghiên cứu thường có chủ đề về nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực y tế; đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập cho đào tạo BSĐK trong phạm vi các trường đào tạo y khoa. Ở nghiên cứu này, tác giả muốn hướng tới nội dung thay đổi phương pháp tiếp cận trong quản lý dự án ODA cho ngành y tế nói chung và cho đội ngũ BSĐK nói riêng. Cụ thể là phương pháp quản lý dự án dựa trên đầu ra và phân bổ nguồn lực dựa trên cam kết của đơn vị và trách nhiệm giải trình xã hội khi triển khai thực hiện dự án để đảm bảo được hiệu quả đầu tư, chất lượng sản phẩm của dự án. Những vấn đề chung về quản lý dự án ODA cho đào tạo đội ngũ bác sỹ đa khoa 1.
Đào tạo đội ngũ bác sỹ đa khoa 10 Bác sĩ đa khoa là bác sĩ điều trị các bệnh mãn và cấp tính, đưa ra các biện pháp phòng bệnh, hướng dẫn phục hồi sức khỏe và kê thuốc cho bệnh nhân. Đào tạo đội ngũ BSĐK là quá trình đào tạo về kiến thức chuyên môn y khoa, kỹ năng thực hành lâm sàng cũng như các nội dung về y đức… cho các sinh viên y khoa nhằm góp phần nâng cao chất lượng khám bệnh chữa bệnh. Các Bác sỹ sau khi ra trường để được hành nghề khám bệnh chữa bệnh cần qua 18 tháng thực hành tiền hành nghề trước khi cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh chữa bệnh. Quản lý dự án ODA Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và giám sát quá trình triển khai của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời gian, trong phạm vi ngân sách đã được duyệt, đảm bảo chất lượng, đạt được mục tiêu cụ thể của dự án và các mục đích đề ra.
ODA là nguồn vốn vay ưu đãi từ nước ngoài, gọi là vốn “Hỗ trợ phát triển chính thức" (ODA là viết tắt của cụm từ Official Development Assistance). Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay.
Với đặc thù về tính ưu đãi nên ODA còn được gọi là "viện trợ ODA" (nước viện trợ ODA-nước nhận viện trợ ODA), nhưng suy cho cùng, ODA cũng là một hình thức đầu tư nước ngoài. Quản lý Dự án ODA là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành, giám sát triển khai dự án sử dụng vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA), bao gồm 11 viện trợ không hoàn lại và hoàn lại.