Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác đánh giá giáo viên mầm non theo chuân nghề nghiệp. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Chương 3: Các biện pháp quản lý công tác đánh giá giáo viên mằm non theo chuẩn nghề nghiệp ở huyện Binh Son, tinh Quang Ngãi Phần 3: Kết luận và kiến nghị CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY CONG TÁC ĐÁNH GIÁ GIAO VIEN MAM NON THEO CHUAN NGHE NGHIEP 1. TONG QUAN NGHIEN CUU VAN DE.
Nghiên cứu ở nước ngoài Tìm hiểu các tư tưởng trên thế giới nghiên cứu về hoạt chuẩn nghề nghiệp người GV, tác giả có một số nhận xét sau: Chuẩn nghề nghiệp không. phải là nội dung mới mà chuẩn nghề nghiệp là một vấn đề đã được nhiều quốc. gia, nhà giáo dục học trên thế giới quan tâm đến dưới các góc độ khác nhau. Có thể sơ lược như sau: Nghiên cứu các tài liệu được cung cấp đề thấy rõ lịch sử hình thành và phát triển chuẩn nghề nghiệp giáo viên một số nước như Mĩ, Anh, Úc.
Quá trình phát triển của chuẩn nghẻ nghiệp ở Mĩ: Bắt đầu vào giữa thập kỷ 80, những quan tâm sâu sắc về vấn đề giáo viên trong trường học ở Mĩ của nhiều nhà nghiên cứu đã được nhà nước và các cơ sở tư nhân tài trợ. Báo cáo năm 1987 của Tổ hợp Carregie “Chương trình Quốc gia chuẩn bị giáo viên cho thế kỷ 21” đã dẫn tới việc lập ra Vụ Quốc gia Mĩ về chuẩn nghề nghiệp giáo. viên Mĩ với nhiệm vụ nâng cao chuẩn dạy học cũng như thành tích học tập của học sinh trên toàn quốc. Cơ quan này bắt đầu cấp bằng cho giáo viên vào năm 1995.
Ý đồ của vụ giáo dục là tạo cho giáo viên ở khắp nước Mĩ, không kể bằng cấp ban đầu và nơi họ đăng kí hành nghề, được kiểm tra để được công nhận là “đạt” sau khi họ có tối thiểu 3 năm giảng dạy. Chương trình của vụ tuy không bắt buộc nhưng ý tưởng và phương pháp của vụ được chính quyền Clinton rất tán thành (Bộ GD Mĩ, 1997). Chương trình khẳng định việc công nhận kỹ năng giảng dạy xuất sắc đã mang lại phần thưởng cho những giáo viên được đánh giá đạt Chuẩn quy định, mở ra cơ hội để họ nhận vị trí lãnh dao cũng như tạo ra “ngọn hải đăng” có tác dụng khuyến khích các GV khác. Trong hai năm đầu, khoảng 500 GV được công nhận, sau đó chính phủ liên bang đồng ý cấp ngân sách để vụ tiến hành xét cấp bằng cho khoảng 100.000 GV trong vòng 10 năm, tới năm 2007, với mục tiêu ít nhất mỗi trường có một GV nhận Bằng.
Tại nước Anh: Từ cuỗi thập niên 80, đào tạo theo chuẩn trong lĩnh vực dạy học càng ngày càng được chính phủ chấp nhận và khuyến khích. Trong lĩnh vực dạy học người ta thận trọng trước sự đỏi hỏi quá chỉ tiết của phương pháp dạy học. Điều đó được hội đồng bằng cấp quốc gia (1992) thừa nhận trong bản đánh giá các bước khởi đầu của đào tạo theo chuẩn tại các trường học và các cơ sở đào tạo giáo viên. Hội đồng thấy rằng đào tạo theo chuẩn có thể “làm sắc nét trọng điểm” của chương trình nhưng nó gây căng thăng nên cần phải chú ý đảm bảo sự quan trọng của các nhân tô nhận thức và tình cảm trong, đào tạo GV không bị bỏ qua, cũng như chương trình đảo tạo giáo viên không quá hẹp.
Các chính sách của chính phủ Anh từ năm 1992 có xu hướng đặt ra những lĩnh vực rộng về tri thức và kỹ năng để lập chương trình đào tạo GV và để đánh giá theo chu kì trong. [22] Vào tháng 2 năm 2000, Trường trung cấp sư phạm cùng với Hội đồng nghiên cứu GD Úc, Hội nghiên cứu chương trình và đại học Melbbourne mở hội thảo quốc gia về “Chuẩn nghề nghiệp, vấn đề, thách thức và cơ hội” trong 2 ngày. Hơn 120 đại biểu từ New Zealand, Hong Kong, Mĩ và các tiểu bang của Úc tới dự Diễn đàn đã đánh dấu một bước ngoặt trong việc chuyền sự chú ý từ liên kết các phẩm chất dạy học ở những giai đoạn nghề nghiệp khác nhau sang vấn đề thách thức của việc đánh giá giáo viên theo chuẩn 1. Các nghiên cứu trong nước Những năm gần đây vấn đề chất lượng, đảm bảo chất lượng và chuẩn hoá trong GD (giáo dục) rất được quan tâm nhưng vẫn chưa thật đồng bộ trong QLGD và quản lý nhà nước về GD.
Vì vậy để đáp ứng yêu cầu “đổi mới căn bản nền GD, từng bước tiếp cận nền GD quốc tế, ngành GD&ĐT của nước ta đang quan tâm đến “chuẩn” như chuẩn phát triển trẻ, chuẩn học tập, chuẩn trường học. đó là căn cứ để đối chiếu, soi rọi lại định mức và là thước đo dé góp phan đánh giá kết quả của quá trình dạy học và phát triển đội ngũ. Đã có các công trình nghiên cứu về đánh giá trong giáo dục mâm non như: - Hồ Lam Hồng (2005), “Chất lượng đào tạo giáo viên mầm non dựa vào. - Tran Lan Hương (2006), “Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng.
Giáo dục Mầm non”. - Lê Thu Hương (2010), “Một số vấn đề lí luận về chất lượng Giáo dục mâm non”, Trung tâm nghiên cứu chất lượng & phát triển chương trình Giáo dục mầm non. ~ Lê Thị Bích Vân (2010): “Một số giải pháp tổ chức thực hiện quy trình đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp ở thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam”. - Nguyễn Công Duật (2000), “Thực trạng và giải pháp cơ bản phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh theo chuẩn nghề nghiệp”.
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học sư phạm Hà Nội. Tác giả đã khái quát cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở theo chuẩn nghề nghiệp. Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng. phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh theo chuẩn nghề nghiệp.
Trên cơ sở lý luận và hạn chế thực trạng tác giả đã đề xuất 5 giải pháp nhằm phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh 10 đáp ứng theo chuẩn nghề nghiệp. [19] - Nguyễn Như Mai (2009), thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục với đề “Phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học thành phố Nha Trang theo chuẩn nghề nghiệp” ~ ĐH Huế - Nguyễn Thị Hằng (2010), với đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Giáp Hải, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang”, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục, ĐH Huế. Đề tài đưa ra Š giải pháp nhằm phát triển đội ngũ giáo viên THPT bao gồm Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên về công tác phát triển đội ngũ giáo viên nhà trường; Đổi mới việc tuyển chọn đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển nhà trường; Sử dụng đội ngũ giáo viên phù hợp với năng lực và sở trường của cá nhân và yêu cầu của nhà trường; Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nang cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất nhà giáo; Thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên trung học phô thông. - Luận văn Thạc sĩ: “Các biện pháp xây dựng đội ngũ giáo viên mam non huyện Bim Sơn, Thanh Hóa” của tác giả Vũ Thị Thu Huyền đã đưa ra các biện pháp như nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý, GV về sự cần thiết phát triển đội ngũ GV, đổi mới chính sách phát triển đội ngũ GV, wv.[29] Năm 2008, Bộ GD&ĐT ban hành chuẩn nghề nghiệp GVMN, không chỉ tạo cơ sở cho việc thiết kế chương trình đào tạo giáo viên, chuẩn kiểm định chất lượng đào tạo mà còn là cơ sở để các giáo viên tự đánh giá năng lực, phẩm chất của mình, là căn cứ để CBQL giáo dục quản lý, phát triển đội ngũ GVMN.
theo đúng hướng chuẩn hoá. [9] Chuẩn giáo viên hay chuẩn nghề nghiệp giáo viên là quy định các mức đô, yêu cầu năng lực sư phạm của người giáo viên phải đạt được trong từng giai đoạn phát triển năng lực nghề nghiệp. Chuẩn giáo viên do nhà nước ban hành và được điều chỉnh đáp ứng yêu cầu giáo dục theo từng giai đoạn. Như 1I vậy chuẩn giáo viên đã bao hàm chuẩn đào tạo ban đầu đồng thời bao hàm các mức độ, các yêu cầu với các tiêu chí ngày càng cao hơn để đo năng lực giáo viên ở từng giai đoạn dạy học sau đó.
Đó là cách ghi nhận trình độ chuyên môn không ngừng nâng cao của người giáo viên đáp ứng yêu cầu cho giáo dục và xã hội. Tóm lại, từ những nội dung đã trình bày trên có thể nhìn nhận: - Đánh giá xếp loại giáo viên mầm non để phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD&ĐT nói chung và cho ngành học mằm non nói riêng là ấp thiết ~ Nâng cao công tác đánh giá xép loại giáo viên mầm non theo CNN là yêu cầu tất yếu của sự phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục của các quốc gia trong xu thế hội nhập, đó là vấn đề cấp thiết, được xác định nhấn mạnh đến vai trò của các cấp quản lý, các cơ cở đào tạo. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khăng định chuẩn nghề nghiệp có một ý nghĩa và vai trò rất quan trọng đối với chất lượng giáo dục. Đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về quản lý công tác đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp.
Vì vậy, việc thực hiện đề tài này sẽ không trùng lắp, đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý công tác đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp nói chung và ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi nói riêng 12. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Khái niệm quản lí Hoạt động của con người ngày càng đa dạng, phức tạp và phong phú. Chính vì sự phong phú đó nên khi nói đến QL đã có rất nhiều khái niệm khác.
nhau và tư tưởng QL cũng khác nhau. * QL theo quan niệm của tác giả nước ngoài: Theo Harold Koontz (nha QL người Mỹ) cho rằng: “Quản Ip là một 12 yếu tổ cần thiết để đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân ”. Do vậy, QL với tư cách thực hành thì nó là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức làm cơ sở cho nó có thể coi như là một khoa học.