CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA ĐÈ TÀI 1,1. Khái niệm thể loại văn học và sự phân chia thể loại văn học. Khái niệm thể loại của tác phẩm văn học. ác phẩm văn học là chính thé của sự thông nhất trọn vẹn nhiều yếu tô như.
Sự thống nhất này được thực hiện theo những quy luật nhất định. Nhà triết học Đức Hegel (1770 ~ 1831) đã coi tá phẩm văn học trong mối quan hệ chỉnh thể - bộ phận, đó là “sản phẩm của trí tướng. tượng phóng túng tự do, dược biểu hiện dưới hình thức một tổng thể hữu cơ khép Kin, hitu hạn mà mỗi bộ phận ctia né déu tron ven” [1, 11. Nhin chung chúng ta có thé nhận thấy được sự "giãn nở” của tác phẩm văn học so với văn bản, nó được hình thành trên cơ sở quá trình tương tác giữa nha văn - bạn đọc và truyén thông, văn hóa — văn học trong chính quá trình vận động liên tục không ngừng của tác phẩm.
Thể loại chính là hình thức chinh thể của tác phẩm văn học. “Theo “Tử điển thuật ngữ văn học ", nhóm tác giả do Lê Ba Hán chủ biên có đưa ra khái niệm: thể loại văn học là *dạng thức của TPVH, được hình thành và tồn tại tương đối ôn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự. giống nhau về cách thức tỏ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miễu tả và về tính chất của mổi quan hệ của nhà văn đổi với các hiện tượng đời sống dy" [25.252], Nhóm tác giả cuốn Lí luận văn học cho rằng: “Thể loại tác phẩm văn học là một hiện tượng loại hình của sáng tác và giao tiếp văn học, hình thành trên cơ sé sự lặp lại có quy luật của các yếu tổ tác phẩm: “Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu thể loại TPVH chính là một hiện tượng loại hình của sáng tác văn học, nó chỉ phối đến quá trình giao tiếp văn học. Nói cách khác, khi sáng tác văn chương theo một thể loại nào đó thì tác giả đã xác lập một kênh giao tiếp nhằm hướng đến người đọc và nó mang tính tương đổi ổn định.
Do đó người đọc muốn giải mã tác phẩm văn chương không thể bỏ qua yếu tổ quan trọng tạo nên tính chỉnh thể trọn vẹn đó là thể loại tác phẩm văn học. Sự phân chia thể loại văn học. bu chí và cách phân chia thể loại văn học Sự phân loại tác phẩm văn học là bước đầu tiên trong quá trình nhận thức cá quy luật thể loại. Sự phân chia thể loại TPVH thực chất là phân loại nội dung và hình thức thể loại “Thực tế văn học cho thấy, dù cùng một “loại” văn học nhưng có những thể loại văn học rí khác nhau.
Do vậy còn có rất nhiều tiêu chi khác để phân chia “Xét về dung lượng tác phẩm có thể phân biệt thơ và trường ca, khúc ngâm; phân biệt truyện dài, truyện vừa và truyện ngắn; phân biệt tiểu thuyết va ki, “Xét về cảm hứng chủ đạo có thể phân biệt bỉ kịch và hài kịch, phân biệt thơ ca ngợi và thơ trào phúng, châm biểm,. Ngoài các tiều chí phân loại trên, người ta cồn để xuất tiêu chí phân loại theo nội dung thể loại. Có nhiễu tiêu chí để phân chia các thể loại văn học, nhưng phương diện quan trọng nhất để phân loại tác phẩm phổ biến, rộng rãi nhất đó chính là phương thức tái hiện đời sống và cấu tao tác phẩm. Tir thoi cổ đại, Aristote dựa vào cách phân nay da chia văn học thành ba loại Tà tự sự, trữ tỉnh và kích.
'Ở Việt Nam, một số học giả lại có những cách chia khác nhau. Theo Dương Quảng Hàm trong “Viet Nam văn học sử yếu” đã có cách chia ba nhưng hoàn toàn khác cách chỉa ba như trên, đó là: vận văn (là loại có văn vẫn, gồm thơ, phú, lục bát, song thất lục bát, hát nói. Tác giả Nguyễn Lương Ngọc trong “Máp vấn đẻ vẻ nguyên lí văn học” thì có cách chia bốn như sau: thơ, tiểu thuyết, kịch và một số. loại thể văn xuôi khác như tùy bút, tạp văn,.
Trần Đình Sử lại chia ba theo cách cổ điển: tự sự, tữ tình và kịch. Lê Ngọc Trả thì cho rằng thể loại văn học được chia theo truyện, thơ và kịch. Qua day, chúng ta thấy việc phân chia tác TPVH vẫn còn một số điểm chưa. thống nhất nhưng tựu trung đã có ý cha thể loại đi từ cái chung (loại thể) đến cái riêng, cái cụ thể hơn (thể loại) và từ cái riêng đó để hình thành khái quát nên cái chung.
16 * Các thể loại chủ yếu của văn học trung đại Việt Nam. Dựa vào cấu trúc hình thức câu văn và cấu trúc iữa các câu với nhau, có thể chia van học trung đại thành hai loại lớn là văn xuôi và thơ. ~ Các thể loại thơ (van van) trung đại: Thơ chữ Hán, thơ chữ Nôm, diễn ca lịch sử, ngâm khúc, truyện thơ Nôm, hát nói. ~ Các thể loại văn xuôi trung đại: hịch, cáo, chiếu, biểu, thư, tựa, ký, tùy bút, truyện truyền kỉ, liễu thuyết chương hồi, phú cổ thể, tế, Dựa vào các tiêu chí ngôn ngữ, nghệ thuật lập luận, cảm hứng nghệ thuật hình tượng trung tâm trong tác ác thể loại văn xuôi trung đại được chia ra thành các nhôm thể loại: Nhóm thể loại văn xuôi chính luận: bịch, cáo, chiếu, biểu, tựa, thư.
Nhóm thể loại văn xuôi giàu chất tự sự: truyện truyền kì, ký, tiểu thuyết chương hồi 'Nhóm thể loại văn xuôi giảu chất trữ tình: phú, tế, tùy bút. ‘Tuy vay, sw phan chia nay chi mang tinh chat tương đối bởi vì không có một. tác phẩm nào thuần túy một thể loại nhất định. Bởi trong các tác phẩm thuộc văn.
xuôi chính luận như Đại cáo binh Ngô (Nguyễn Trãi), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc. Tuấn) có yếu tổ trữ tình, hoặc các bài văn tế tuy giàu chất trữ tỉnh nhưng có trường. hợp cũng mang tính tự sự.2, Đặc trưng thí pháp của văn học trung đại Việt Nam Văn học viết Việt Nam luôn gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tô. Cùng với sự phát triển toàn điện vẻ chính trị, tôn giáo và các loại hình nghệ thuật khác nhau như kiến trúc, điêu khắc,.
bộ phận văn học viết cũng ra đời và phát triển. Trong đó, văn học tir thé ki X đến hết thế ki XIX tồn tại và phát triển trong. xã hôi phong kiến được gọi là văn học trung đại. Do nằm trong một hệ thống thẳm mĩ.
riêng do quan niệm mĩ học phong kiến quy định, điều đó tạo nên những đặc điểm. tiêng của giai đoạn văn học trung đại trong tổng quan văn học Việt Nam. Văn học trung đại Việt Nam với hệ hồng ưóc lệ thẩm mĩ cỗ điển — nứt nổi bật của hình thức biểu hiện “Trong đời sống xã hội, ước lệ là một qui ước có tính cộng đồng. Ước lệ là một tín hiệu riêng của một cộng đồng khi cảm nhận thực tại, làm cho sự vật và hiện 17 tượng hiện lên đúng với chiểu kích qui ước và đúng với cách hiểu của cả cộng.
Trong văn học trung đại Việt Nam, ước lệ được nhà văn sử dụng triệt đẻ, nghiêm túc và phổ biển. Đây là đặc điểm nỗi bật của văn học trung đại. Khi sáng tác, các tác giả thường vay mượn văn liệu, thì liêu, điển cố, điễn tích lấy từ sách vở. thánh hiển và kinh ichsá củ các tôn giáo.
Sự vay mượn này được lặp lại nhiễu đến nỗi thành những môtip quen thuộc tạo nén tinh ước tượng trưng trong văn học. Lúc bấy giờ, những sáng tác văn chương có như thế thì mới được coi là bác học, cao quý. Ước lệ đã trở thành một đặc trưng thị pháp của văn học. Dặc trưng thì pháp, này hình thành từ chính bối cả lịch sử xã hội phong kiến và cảm quan thẩm mỹ ủa tằng lớp văn nghệ sĩ Hán học.
Chẳng hạn, nói đến cây và hoa thì đừng, cúc, trúc mai, sen.bởi chúng là những biểu tượng để chỉ những phẩm chát, cốt cách, khí tiết của người quân tử, của bậc trượng phu; nói đến con vật thì phải là long. quy, phụng; nói đến người thì sgư, tiểu, canh, mục; nói đến hoa bốn mùa phải là xuân lan, thư cúc, ha sen, đông mai; tả cảnh mùa thu thì máy đùn của ái, lá ngõ đồng vàng rơi, rừng phong lá rụng, sen tàn giống ngọc; nói đến thời gian phải là êm năm canh, ngày sáu khắc; tà mỹ nhân thì làn thu thuy, nét xuân sơn, sóng thu ba, tóc như mây, da nhực yết Ba tính chất đặc trưng của hệ thống ước lệ đó là: tính uyên bác và cách điệu. hóa cao độ, tinh sũng cổ, tính phi ngã * Tỉnh uyên bác và cách điệu hóa 'Văn học chính thống thời phong kiển được mệnh danh là văn chương bác học (Văn học đân gian gọi là văn học bình dân) bởi người sáng tác phải bác học và người tiếp nhận cũng phải có tầm hiểu biết sâu rộng. 'Văn học trung đại Việt Nam với khởi đầu của nó được viết bằng chữ Hán, đó.
là ngôn ngữ của trí thức cao cắp, của tầng lớp có học vấn cao.Về lực lượng sí g tie, tác gid chit yéu la nhimg thién sư, nho sĩ, quan lại, quý tộc. Ngay cả về sau, khi văn học được viết bằng chữ Nôm cũng vậy. Tác giả của bộ phận văn học nảy cũng là những trí thức, những người học rộng hoặc nho sĩ bình dân. Họ sáng tác văn học là để chờ đạo (văn dĩ tải đạo), để truyền đạt day đời.
Về nội dung văn học, tác phẩm văn học thể hiện những trí thức sách vở, sử đụng thi văn liệu, điễn cổ điển tích lấy. từ Thánh kinh hiền truyện của Nho gia, của Bách gia chư tử, từ các bộ kinh Phật, từ 18 sách vở của Lão Trang. Tắt cả đều thể hiện tính uyên bác về trí thức. Văn chương, như thể mới được coi là bác học, cao quý.
'Về bản chất xã hội và dé tai, tinh bác học, cao quý này còn xuất phát từ quan niệm coi văn học là lời nói của thánh hiền. Lời nói ấy gắn với Đạo. Đạo có nguồn È tài văn học ít nói đến cái tằm thường, cái mộc mạc hay sự. vật sự việc tằm thường của cuộc.
ng đời thường; ít phân ánh, miều tả chỉ tiết thực của cuộc sống thực. Nếu có viết về cuộc sống đời thường, con người đời thường như thẳng mõ, con cóc, tát nước, dệt vải. chăng qua là nhằm mục đích nói về những sự việc, con người cao quý thông qua phương thức ngụ ý, ái chỉ, tượng trưng 'Văn chương chính thống thời phong kiến mang tính qui phạm từ góc độ sáng.