Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HÀNH VI ĐẠO ĐỨC 1. Những nghiên cứu về vấn đề giáo dục hành vi đạo đức * Những nghiên cứu trên thế giới Ở các quốc gia trên thế giới, việc giáo dục HVĐĐ cho trẻ được đặc biệt quan tâm, tiêu biểu như: Khổng tử (5151 – 479 TCN), J. Piaget (1896 - 1980)… Quan điểm về đạo đức, HVĐĐ của Khổng Tử [32.130] bao gồm rất nhiều mặt như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng… nhưng trong đó quan trọng hơn là “nhân”. Nhân một mặt là thương con người, “điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác”, trái lại “mình muốn lập thân thì giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt”.
Đồng thời đối với bản thân thì phải “kiềm chế mình làm đúng theo lễ, không hợp với lễ thì không làm”.193] cho rằng, con người khi sinh ra đã có tính xã hội. Theo ông, giáo dục hành vi cho trẻ phải nhìn nhận và đặt trong các mối quan hệ với cộng đồng, để cộng đồng tiếp nhận và điều chỉnh hành vi đó dưới sự quan sát của người lớn. Qua đây ta thấy, giáo dục HVĐĐ được Vưgotxky thể hiện rõ qua việc nghiên cứu hành vi của trẻ và sự bộc lộ hành vi đó trong môi trường văn hóa – xã hội. Locker, cần phải giáo dục HVĐĐ cho con người từ rất sớm, ông cho rằng đạo đức hay HVĐĐ được xác lập trên các ứng xử hàng ngày với cộng đồng và cần phải cho trẻ tập dượt ngay trong gia đình.
[36] Trong các nghiên cứu những vấn đề lí luận của giáo dục đạo đức, trong đó có giáo dục HVĐĐ cho học sinh được thể hiện qua các tài liệu, giáo trình, T. Savin đã chỉ ra việc giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giáo dục lao động, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể dục… Những hành vi tích cực sau quá trình giáo dục này đều hướng vào cộng đồng, xây dựng đất nước. Các tác giả cho rằng GDĐĐ là một hoạt động chuyên biệt, có mục đích của người giáo dục nhằm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xây dựng cho học sinh những nét tính cách nhất định và bồi dưỡng cho các em những tiêu chuẩn và những quy tắc quy định thái độ, hành vi của các em đối với nhau, đối với gia đình, với người khác, với nhà nước và Tổ quốc [37]. Ông chỉ ra, HVĐĐ của con người dựa trên động cơ kích thích bên trong.
Các tác giả khẳng định “thường một người chưa có động cơ kích thích bên trong cần thiết để thực hiện những hành vi, cử chỉ xấu vì sợ dư luận, bạn bè chê trách”. Như vậy, cần giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ bằng cách kích thích bên trong trẻ những tình cảm, thái độ cao cả, lấy dư luận tập thể để kìm hãm, thủ tiêu những hành vi trái đạo đức và giáo dục những hành vi này theo xu thế chung của cộng đồng.Rutxô (1712- 1778) thì: Thiên nhiên tạo ra con người có bản chất tốt đẹp, sống tự do, hạnh phúc. Ông khẳng định, đối tượng giáo dục là trẻ em, mục đích giáo dục là hạnh phúc. Về phương pháp giáo dục, ông chủ trương tìm cách ngăn cản thói hư tật xấu đột nhập trái tim con người, cần chuẩn bị cho trẻ em có khả năng đấu tranh loại bỏ thói hư tật xấu.
Do đó, phải thay đổi phương pháp, biện pháp giáo dục theo lứa tuổi. Theo nhà tâm lý học Lawrence Kohlberg, trong lý thuyết về sự phát triển đạo đức của con người, ông chia ra làm sáu giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn đầu tiên của ấu nhi. Chúng muốn được chú ý và được thỏa mãn các yêu cầu ngay lập tức.
Đó là những yêu cầu rất tự nhiên của một em bé, chúng tập sinh tồn bằng cách nghĩ đến mình trước tiên. Giai đoạn 2 vẫn còn là một giai đoạn ấu trĩ trong tiến trình tạo dựng nhân cách. Cho nên vấn đề làm thế nào để cho một đứa trẻ con hiểu được ý nghĩa của sự "Đúng và Sai" theo tiêu chuẩn của luật pháp, đạo đức, phong tục, là một điều hầu như không thể làm được. Giai đoạn thứ ba.
Tiến thêm một bậc thang nữa, trẻ con bắt đầu nghĩ đến người khác. Trẻ con ở giai đoạn này thường được cha mẹ khuyến khích bằng những lời khen hay phần thưởng. Qua giai đoạn thứ tư, đứa trẻ thâu nhận vào trong thế giới của nó nhiều người hơn. Nó ít muốn ở trong nhà, và không muốn giới hạn sinh hoạt của mình ở trong giai đình nữa.
Trẻ ở giai đoạn này, có khuynh hướng muốn tham gia vào những hoạt động của đoàn thể, muốn làm chung, chơi chung. Trẻ gia nhập vào 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một nhóm bạn, hoặc các đoàn thể thanh thiếu niên. Giai đoạn thứ 5 là giai đoạn rất quan trọng của tuổi dậy thì. Ở giai đoạn này, trẻ có nhu cầu cần diễn đạt những tư tưởng cũng như hành động của mình.
Nói một cách khác, trẻ biết cân nhắc ý kiến của người khác và phân tách, đối chiếu với tư tưởng của nó. Đây cũng là một giai đoạn rất khó khăn cho con cái. Giai đoạn thứ 5, là giai đoạn thường được mệnh danh là giai đoạn "Nổi loạn" của tuổi dậy thì. Giai đoạn thứ sáu.
Đây là giai đoạn sau cùng của sự trưởng thành trong nhân cách. Người thanh niên đạt đến giai đoạn này, đã gây dựng được một hệ thống tư tưởng và hành động vững mạnh trên một nền móng đạo đức bền bỉ và chính xác. Giáo sư Kohlberg nói rằng, cái khó nhất của cha mẹ trong sự giúp đỡ con cái vượt qua những giai đoạn phát triển tính hạnh, là sự làm gương. Người làm cha mẹ, không thể nào bắt buộc con cái phải đạt đến một trình độ đạo đức cao, trong khi chính bản thân mình vẫn cứ đứng lại ở các nấc thang dưới thấp [25].
Trẻ con không trải qua tất cả các giai đoạn một cách tự động. Đối với trẻ em ở độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi, có trẻ dừng lại ở giai đoạn 2 cho đến hết cuộc đời. Có trẻ từ giai đoạn 4 trở lại giai đoạn 3 và dừng lại luôn ở đó. Thời gian trải qua những giai đoạn, mau hay chậm cũng tùy thuộc vào cá nhân mỗi em [25].
Giáo dục đạo đức ở Nhật Bản được xây dựng trên nền tảng các giá trị gia đình và văn hóa truyền thống, nhiều nước trên thế giới quan niệm rằng nội dung giáo dục đạo đức cần tập trung đào luyện những phẩm chất cơ bản của nhân cách như tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, tinh thần hợp tác. trong khi Triết lý giáo dục đạo đức của Nhật Bản được nêu trong chương trình khung quốc gia nhằm đào luyện: - Tinh thần tôn trọng nhân phẩm và lòng yêu quý cuộc sống - Nhiệt tâm kế thừa và phát triển văn hóa truyền thống - Nhiệt tâm phát triển một đất nước và xã hội dân chủ - Ý thức đóng góp cho sự phát triển của một xã hội quốc tế thanh bình - khả năng tự quyết định - Ý thức đạo đức. Đặc trưng giáo dục đạo đức ở Nhật Bản tập trung vào ba điểm: lòng tôn trọng cuộc sống, quan hệ cá nhân và cộng đồng. Đó được xem là yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững về kinh tế, xã hội của quốc gia Nhật Bản.
Trật tự này bắt nguồn từ Khổng giáo và ở đơn vị gia đình, các thành viên thuộc nhiều thế hệ gắn kết với nhau bởi 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tình cảm tự nhiên hơn là bởi khả năng và quyền lực. Trong ý nghĩa này, Nhật Bản được xem như một xã hội có diện mạo gia đình (a pseudo-family society). Các tác giả cho rằng, giáo dục HVĐĐ là một hoạt động chuyên biệt, nhằm bồi dưỡng cho trẻ những tiêu chuẩn và những quy tắc quy định thái độ, hành vi của trẻ đối với nhau, đối với gia đình, với người khác và đối với tổ quốc. Và chỉ ra HVĐĐ của con người dựa trên động cơ kích thích bên trong [23.
Các nghiên cứu trên cho thấy, giáo dục HVĐĐ cho trẻ trong gia đình đã có những cơ sở lí luận cơ bản và rất cần thiết cho việc vận dụng vào trong thực tiễn giáo dục HVĐĐ cho trẻ trong các gia đình ở nước ta hiện nay. Đó là cần phải đưa các em trải nghiệm trong thực tiễn cuộc sống, vào trong các mối quan hệ của các em. * Những nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, giáo dục HVĐĐ dưới góc độ tâm lý học được quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và đạt được kết quả nhằm giáo dục HVĐĐ cho học sinh nói chung và cho trẻ nhỏ nói riêng, được thể hiện trong một số tài liệu, công trình nghiên cứu, tiêu biểu như: - Tác giả Ngô Công Hoàn [22] Nghiên cứu khía cạnh tâm lý của hành vi, HVĐĐ của trẻ em.
Tác giả chỉ ra những đặc điểm hành vi và việc hình thành hành vi, HVĐĐ ở trẻ. Ngoài ra, tác giả còn chỉ ra những nhân tố tác động có ảnh hưởng đến việc hình thành hành vi của trẻ như gia đình, bạn bè, kĩ năng sư phạm và sự ứng xử của người giáo dục trẻ,… Tác giả Mạc Văn Trang [37] nghiên cứu những phương pháp, biện pháp để giáo dục HVĐĐ cho học sinh và chỉ ra những sai lầm trong việc sử dụng phương pháp giáo dục HVĐĐ cho học sinh. Bên cạnh đó tác giả còn đi vào rèn luyện cho các em một số hành vi đạo đức cụ thể. Những kết quả này được thể hiện trong tài liệu “giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh nhỏ”.
Các tác giả Lưu Thu Thủy [33]; Phạm Ngọc Định [8]; Võ Nguyên Du [7], đưa ra một số biện pháp, quy trình giáo dục hành vi đạo đức ở khía cạnh giao 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếp có văn hóa cho trẻ, bên cạnh đó các tác giả còn chỉ ra một số điều kiện đảm bảo cho việc giáo dục hành vi giao có văn hóa. Về nội dung giáo dục HVĐĐ trong gia đình, tác giả Phạm Khắc Chương và tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng trong tác phẩm “Giáo dục gia đình” đã khái quát một số nội dung cơ bản của giáo dục trong gia đình như: + Giáo dục hành vi đạo đức: Hình thành những quy tắc, chuẩn mực đạo đức. + Giáo dục thái độ, kỹ năng lao động. + Giáo dục thể chất thẩm mỹ.
GDGĐ được tiến hành với các phương pháp: Tổ chức cho trẻ hoạt động, noi gương cha mẹ. Phương thức cơ bản trong giáo dục gia đình là: khuyên bảo, thuyết phục, rèn thói quen và khen thưởng.