Luận văn thạc sĩ giáo dục đạo đức nghề nghiệp theo sáu điều bác hồ dạy lực lượng công an nhân dân cho học viên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu giáo dục đạo đức nghề nghiệp theo sáu điều bác hồ dạy lực lượng công an nhân dân cho học viên, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Bí quyết nghiên cứu luận văn giáo dục đạo đức nghề nghiệp CAND

Luận văn thạc sĩ về giáo dục đạo đức nghề nghiệp theo Sáu điều Bác Hồ dạy lực lượng Công an nhân dân là một đề tài mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc. Trong bối cảnh xã hội hiện nay, sự suy thoái về đạo đức, lối sống đang là một thách thức lớn, len lỏi vào cả những ngành nghề được xã hội tôn vinh như Công an nhân dân. Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào công tác đào tạo trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Công trình nghiên cứu của tác giả Hà Thị Phương Ngân tại Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy (PCCC) là một tài liệu tham khảo giá trị, cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo. Nội dung cốt lõi của luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hình thành phẩm chất người công an nhân dân toàn diện, có bản lĩnh chính trị vững vàng. Việc giáo dục này không chỉ trang bị kiến thức mà còn hun đúc nên tư cách người công an cách mệnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới. Nghiên cứu này khẳng định, Sáu điều Bác Hồ dạy không chỉ là di sản tinh thần mà còn là kim chỉ nam cho mọi hành động, là nền tảng để xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh.

1.1. Tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến việc rèn luyện đạo đức cách mạng. Người khẳng định: “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế, tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm gì được cho xã hội mà còn hại cho xã hội nữa”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một hệ thống toàn diện, trong đó Sáu điều dạy lực lượng CAND là sự kết tinh sâu sắc nhất. Những lời dạy này trở thành nền tảng lý luận, định hướng chính trị - tư tưởng cho công tác xây dựng lực lượng. Việc nghiên cứu tư tưởng của Người giúp các học viên nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình, từ đó tự giác rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, chống lại các biểu hiện tiêu cực, giữ vững phẩm chất trong sáng của người chiến sĩ Công an.

1.2. Mục tiêu của luận văn về đạo đức nghề nghiệp công an

Mục đích chính của luận văn là làm rõ thực trạng giáo dục đạo đức tại các trường Công an, cụ thể là Trường Đại học PCCC, dựa trên lăng kính của Sáu điều Bác Hồ dạy. Từ đó, đề tài đề xuất những giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp một cách hệ thống và khoa học. Nhiệm vụ của nghiên cứu bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về đạo đức nghề nghiệp Cảnh sát PCCC; khảo sát, đánh giá thực trạng nhận thức và quá trình tu dưỡng của học viên; và xây dựng các nhóm giải pháp cụ thể áp dụng cho lực lượng giáo dục, nội dung đào tạo và bản thân người học. Đây là một công trình nghiên cứu khoa học ngành công an có ý nghĩa thiết thực, góp phần hoàn thiện công tác đào tạo tại các học viện.

II. Thách thức trong giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên

Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường Công an nhân dân đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Luận văn chỉ rõ, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn tồn tại một bộ phận nhỏ học viên chưa chấp hành tốt kỷ luật, chưa xác định rõ động cơ nghề nghiệp, dẫn đến tâm lý chán nản, buông xuôi. Sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đã làm nảy sinh lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, làm xói mòn các giá trị đạo đức truyền thống. Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là mối đe dọa trực tiếp đến sự trong sạch, vững mạnh của lực lượng. Thực trạng giáo dục đạo đức này đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới cả về nội dung và phương pháp giảng dạy. Nếu không có những giải pháp tích cực, việc hình thành bản lĩnh chính trịphẩm chất người công an nhân dân cho thế hệ tương lai sẽ gặp nhiều trở ngại. Việc nhận diện đúng và đủ những thách thức này là tiền đề quan trọng để xây dựng các giải pháp hiệu quả, đảm bảo mục tiêu đào tạo toàn diện cả về “đức” và “tài”.

2.1. Phân tích thực trạng nhận thức của học viên công an

Qua khảo sát, luận văn cho thấy nhận thức của đa số học viên về tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp là khá tốt. Tuy nhiên, sự hiểu biết sâu sắc về nội hàm Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân và cách vận dụng vào thực tiễn rèn luyện còn hạn chế. Một số học viên vẫn xem việc học các môn lý luận chính trị Công an nhân dân là nghĩa vụ bắt buộc, thiếu sự chủ động và tự giác. Điều này ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa từ nhận thức thành hành động, làm cho việc tu dưỡng đạo đức đôi khi còn mang tính hình thức, đối phó.

2.2. Hạn chế trong nội dung và hình thức giáo dục hiện nay

Nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế trong công tác tổ chức giáo dục. Nội dung giảng dạy đôi khi còn nặng về lý thuyết, thiếu liên hệ thực tiễn sinh động. Các hình thức giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hoạt động thực tế nhằm rèn luyện đạo đức nghề nghiệp chưa được tổ chức thường xuyên và có chiều sâu. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và đơn vị thực tập trong việc quản lý, giáo dục học viên đôi lúc chưa chặt chẽ, tạo ra những “khoảng trống” để các yếu tố tiêu cực xâm nhập, ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách của người học.

III. Nền tảng Sáu điều Bác Hồ dạy trong giáo dục đạo đức CAND

Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân là di sản tinh thần vô giá, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động xây dựng lực lượng. Luận văn đã hệ thống hóa và khẳng định đây chính là nền tảng lý luận vững chắc nhất cho công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp. Sáu điều dạy bao quát toàn diện các mối quan hệ của người chiến sĩ: với bản thân, với đồng đội, với Chính phủ, với nhân dân, với công việc và với kẻ địch. Mỗi điều dạy là một chuẩn mực đạo đức công an cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thực hiện. “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính” đòi hỏi sự tu dưỡng không ngừng. “Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ” xây dựng tinh thần đoàn kết nội bộ. “Đối vối Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành” là yêu cầu cao nhất về bản lĩnh chính trị. “Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép” thể hiện bản chất “vì nhân dân phục vụ”. “Đối với công việc, phải tận tụy” là thước đo tinh thần trách nhiệm. “Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo” là nguyên tắc trong đấu tranh. Việc thấm nhuần những lời dạy này giúp học viên hình thành đạo đức cách mạngtư cách người công an cách mệnh một cách tự nhiên và bền vững.

3.1. Phân tích nội dung cốt lõi Sáu điều Bác Hồ dạy CAND

Nội dung của Sáu điều dạy là một thể thống nhất, xoay quanh ba mối quan hệ cơ bản: tu dưỡng cá nhân, quan hệ xã hội và trách nhiệm công việc. Luận văn nhấn mạnh, đây không phải là những lời khuyên đạo đức chung chung mà là những nguyên tắc hành động, những tiêu chuẩn cụ thể để mỗi cán bộ, chiến sĩ tự soi, tự sửa. Việc học tập Sáu điều Bác Hồ dạy phải đi vào thực chất, biến các nội dung này thành thói quen, nếp sống hàng ngày, nền tảng để xây dựng phẩm chất người công an nhân dân trong thời kỳ mới.

3.2. Vai trò của Sáu điều Bác Hồ dạy với học viên hiện nay

Trong bối cảnh hiện nay, Sáu điều Bác Hồ dạy càng có ý nghĩa thời sự sâu sắc. Nó là “vũ khí” sắc bén giúp học viên chống lại sự cám dỗ của vật chất, những biểu hiện suy thoái, tiêu cực. Đây là cơ sở để xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Việc giáo dục theo Sáu điều Bác Hồ dạy giúp học viên không chỉ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà còn có một trái tim nóng, một cái đầu lạnh và một nhân cách trong sáng, xứng đáng là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

IV. Phương pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng, luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp mang tính đồng bộ và khả thi. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào đối tượng học viên mà còn hướng đến việc nâng cao vai trò của các chủ thể giáo dục và đổi mới toàn diện nội dung, phương pháp đào tạo. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một môi trường giáo dục tích cực, nơi việc rèn luyện đạo đức nghề nghiệp trở thành nhu cầu tự thân của mỗi người học. Các giải pháp được chia thành ba nhóm chính: nhóm giải pháp đối với lực lượng giáo dục, nhóm giải pháp đổi mới nội dung và hình thức, và nhóm giải pháp phát huy tính chủ động của học viên. Sự kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, giữa giáo dục của nhà trường và tự giáo dục của cá nhân là chìa khóa để nâng cao chất lượng công tác này. Đây là con đường tất yếu để đào tạo nên những người cán bộ công an vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Việc triển khai các giải pháp này cần có sự quyết tâm chính trị của Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường và sự hưởng ứng tích cực của toàn thể cán bộ, giảng viên và học viên.

4.1. Đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị công an

Giải pháp quan trọng hàng đầu là đổi mới phương pháp giảng dạy các môn lý luận chính trị Công an nhân dân. Cần giảm tính hàn lâm, tăng cường các phương pháp dạy học tích cực như thảo luận nhóm, nghiên cứu tình huống thực tiễn, tổ chức các buổi tọa đàm với các tấm gương điển hình. Giảng viên phải là những tấm gương sáng về đạo đức, không ngừng cập nhật kiến thức và gắn bài giảng với thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh trật tự, từ đó truyền cảm hứng và niềm tin cho học viên.

4.2. Tăng cường hoạt động ngoại khóa và thực tiễn rèn luyện

Cần đa dạng hóa các hình thức giáo dục ngoài giờ lên lớp. Tổ chức thường xuyên các cuộc thi tìm hiểu về Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, các hoạt động về nguồn, các phong trào tình nguyện vì cộng đồng. Đặc biệt, cần nâng cao chất lượng các kỳ thực tập, thực tế tại công an các đơn vị, địa phương. Đây là môi trường tốt nhất để học viên cọ xát thực tiễn, vận dụng lý luận vào công việc và tự rèn luyện đạo đức nghề nghiệp một cách sinh động, hiệu quả.

4.3. Phát huy vai trò tự giáo dục tự rèn luyện của học viên

Giải pháp có tính quyết định là nâng cao ý thức tự tu dưỡng của mỗi học viên. Nhà trường cần xây dựng cơ chế để học viên tự đăng ký kế hoạch rèn luyện, tự đánh giá và được tập thể góp ý thường xuyên. Cần phát huy vai trò của các tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ trong việc tạo ra các phong trào thi đua học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng môi trường học tập, rèn luyện lành mạnh, để mỗi học viên thực sự trở thành chủ thể của quá trình hoàn thiện nhân cách.

V. Ý nghĩa thực tiễn trong xây dựng lực lượng công an nhân dân

Kết quả nghiên cứu của luận văn không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, trực tiếp góp phần vào công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong giai đoạn hiện nay. Việc áp dụng thành công các giải pháp đề xuất sẽ tạo ra một thế hệ cán bộ, chiến sĩ công an có đủ phẩm chất và năng lực, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Luận văn cung cấp cơ sở khoa học để lãnh đạo các cấp, đặc biệt là tại Học viện Cảnh sát nhân dânHọc viện An ninh nhân dân, tham khảo trong việc hoạch định chiến lược đào tạo và bồi dưỡng cán bộ. Các kết quả này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học ngành công an. Quan trọng hơn, việc nhấn mạnh vai trò cốt lõi của Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân giúp củng cố nền tảng tư tưởng, giữ vững bản chất cách mạng của lực lượng, góp phần đấu tranh hiệu quả với các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

5.1. Mô hình áp dụng tại Học viện Cảnh sát và An ninh

Các giải pháp của luận văn có thể được cụ thể hóa thành mô hình điểm tại các khoa, bộ môn chuyên ngành của Học viện Cảnh sát nhân dânHọc viện An ninh nhân dân. Mô hình này sẽ tập trung vào việc lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức vào tất cả các môn học, tăng cường hoạt động thực hành, thực tế và xây dựng bộ tiêu chí đánh giá rèn luyện của học viên một cách khoa học, minh bạch. Sự thành công của mô hình sẽ là cơ sở để nhân rộng ra toàn hệ thống các trường CAND.

5.2. Đóng góp vào việc hoàn thiện lý luận đào tạo công an

Luận văn góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận chính trị Công an nhân dân về công tác giáo dục, đào tạo. Nó khẳng định lại giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới, đồng thời chỉ ra những hướng đi cụ thể để vận dụng tư tưởng đó một cách sáng tạo, hiệu quả. Đây là nguồn tài liệu quý cho các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục trong và ngoài ngành Công an khi nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

VI. Hướng phát triển chuẩn mực đạo đức công an trong tương lai

Luận văn không chỉ dừng lại ở việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp trước mắt mà còn mở ra những định hướng phát triển lâu dài cho việc xây dựng chuẩn mực đạo đức công an trong tương lai. Để đáp ứng yêu cầu của một xã hội không ngừng biến đổi, công tác giáo dục đạo đức phải mang tính liên tục, kế thừa và phát triển. Việc nghiên cứu và vận dụng Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân cần được nâng lên một tầm cao mới, không chỉ là học thuộc mà phải thực sự thẩm thấu, trở thành lẽ sống, phương châm hành động của mỗi người. Tương lai của lực lượng CAND phụ thuộc rất lớn vào việc đào tạo và bồi dưỡng thế hệ kế cận. Do đó, việc đầu tư cho công tác giáo dục đạo đức chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững của Ngành. Cần tiếp tục đẩy mạnh các công trình nghiên cứu khoa học ngành công an về chủ đề này, tổng kết các mô hình hay, cách làm hiệu quả để không ngừng hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn, xây dựng hình ảnh người chiến sĩ Công an đẹp trong lòng nhân dân.

6.1. Định hướng nghiên cứu khoa học ngành công an tiếp theo

Các nghiên cứu trong tương lai cần đi sâu vào việc xây dựng bộ công cụ đo lường, đánh giá hiệu quả giáo dục đạo đức một cách định lượng và khách quan. Đồng thời, cần nghiên cứu tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đến phẩm chất người công an nhân dân, từ đó đề xuất các nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp. Việc nghiên cứu so sánh kinh nghiệm quốc tế trong đào tạo đạo đức cho lực lượng cảnh sát cũng là một hướng đi cần được quan tâm.

6.2. Hoàn thiện nhân cách người chiến sĩ công an thế hệ mới

Mục tiêu cuối cùng là hoàn thiện nhân cách người chiến sĩ công an thế hệ mới, có bản lĩnh chính trị kiên định, tinh thông nghiệp vụ, có đạo đức trong sáng, tác phong chính quy, hiện đại và luôn gắn bó máu thịt với nhân dân. Quá trình này đòi hỏi sự nỗ lực đồng bộ từ hệ thống chính trị, nhà trường và bản thân mỗi học viên. Di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường cho lực lượng CAND vững bước tiến lên, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

03/10/2025
Luận văn thạc sĩ giáo dục đạo đức nghề nghiệp theo sáu điều bác hồ dạy lực lượng công an nhân dân cho học viên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CO SO LY LUAN VE GIAO DUC DAO DUC NGHE NGHIỆP THEO SAU DIEU BAC HÒ DẠY LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN CHO HỌC VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY 1. Quan niệm về đạo đức nghề nghiệp Phòng cháy chữa cháy 1. Đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội xuất hiện sớm và có vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Sự ra đời và phát triển của đời sống đạo đức xã hội là do nhu cầu cuộc sống của con người, của xã hội đặt ra.

Ở một mức độ khái quát nhất, có thê hiểu:Đạo đứclà hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phủ hợp với lợi ích của cộng đồng và của xã hội. Thứ nhất, đạo đức là một trong những phương thức cơ bản để điều chỉnh hành vi con người, một sự điều chỉnh tự nguyện, tự giác, không vụ lợi, đi từ tối thiểu đến tôi đa trong mọi hành vi con người. Thứ hai, đạo đức sẽ góp phần thúc đầy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội. Đạo đức - với tư cách là một hình thái ý thức xã hội - tác động đến tồn tại xã hội, đến đời sống kinh tế.

Thứ ba, đạo đức còn góp phần nhân đạo hoá con người và xã hội. Trong một xã hội, con người biết sống vì nhau, vì người khác, sống thân ái, biết yêu thương và nhường nhịn lẫn nhau. đó sẽ là xã hội tốt đẹp. Đạo đức có một số chức năng cơ bản: Thứ nhất, chức năng điều chỉnh hành vi: Sự điều chỉnh hành vi được thực hiện bằng hai hình thức chủ yếu.

Một là, thông qua dư luận xã hội, ca ngợi, khuyến khích cái thiện, cái tốt, lên án, phê phán cái ác, cái xấu. Trong trường hợp này, giá trị đạo đức phụ thuộc vào sức mạnh và tính đúng đắn của dư luận. Mỗi khi dư luận xã hội được củng cố và phát triển, được mọi người đồng tình ủng hộ, nó sẽ trở thành sức mạnh to lớn trong việc điều chỉnh đạo đức. Hai là, bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi của mình theo những chuẩn mực đạo đức xã hội.

Cách thức điều chỉnh này phụ thuộc vào việc giáo dục, giác ngộ của chủ thể đạo đức. Thứ hai, chức năng giáo dục: chức năng giáo dục được thực hiện thông qua sự giáo dục của xã hội và sự tự giáo dục của mỗi cá nhân. Giáo dục đạo đức là quá trình tuyên truyền những tư tưởng, những chuẩn mực đạo đức xã hội, biến nó thành thước đo đánh giá, điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân nhăm đạt tới một sự phù hợp giữa hành vi cá nhân với lợi ích xã hội. Trong quá trình hoạt động sinh sống, mỗi cá nhân không chỉ mưu cầu lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, mà còn mưu cầu sự tiễn bộ của bản thân và đều muốn được dư luận xã hội ca ngợi, biểu đương.

Do đó, những tư tưởng và những chuẩn mực đạo đức xã hội trở thành mục tiêu, thành những định hướng cho hoạt động cá nhân của nó. Tự giáo dục đạo đức của cá nhân, trước hết thế hiện ở chỗ, mỗi cá nhân thông qua sự tự phán xét của lương tâm về hành vi của mình để củng cố các chuẩn mực đạo đức cá nhân, để đạt tới hành vi ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức đó. Mặt khác, dựa vào dư luận xã hội, họ tự điều chỉnh hành vi và điều chỉnh ngay cả những chuẩn mực đạo đức cá nhân khi nhận thấy nó sai lệch với chuẩn mực xã hội. Giá trị đạo đức trong trường hợp này được xác định phụ thuộc vào sự nhạy cảm, sự cầu thị của chủ thể trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cho phù hợp với tư tưởng, chuẩn mực đạo đức của xã hội.

Thứ ba, chức năng nhận thức: những tư tưởng đạo đức và chuẩn mực đạo đức xã hội có trở thành các quan hệ đạo đức trong đời sống xã hội hay không, điều đó không chỉ phụ thuộc vào tính đúng đắn, tư tưởng đạo đức, của các chuẩn đạo đức, vào việc tuyên truyền, giáo dục trong xã hội, mà còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng tiếp nhận và chuyên hoá nó trong hoạt động nhận thức và trong hành vi của mỗi chủ thê đạo đức. Thông qua sự lựa chọn, đánh giá của các chủ thể đạo đức về những tư tưởng, chuẩn mực đạo đức, trong bản thân họ hình thành niềm tin, lý tương đạo đức và các nguyên tắc, chuân mực đạo đức trong quan hệ ứng xử của chính họ. Như vậy, có thê nói, giá trị đạo đức được hình thành ở mỗi cá nhân luôn phụ thuộc vào việc các cá nhân ay được giáo dục và tiếp nhận những tư tưởng và các chuân mực đạo đức đúng đắn của xã hội. Đạo đức nghề nghiệp Nghề nghiệp là một phạm trù xã hội lịch sử.

Nó xuất hiện khi lực lượng sản xuất của xã hội loài người phát triển tạo ra sự phân công lao động trong xã hội. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động trong xã hội cũng ngày càng đa dạng dẫn đến các nghành nghề mới được nảy sinh. Số lượng các nghề trong xã hội phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật từng nước. Khoa học kỹ thuật ngày nay phát triển mạnh mẽ tác động đến sự biến đôi của nghề nghiệp.

Có nghề được củng có, phát triển qua nhiều thế hệ trở thành nghề truyền thống, có nghề mai một dần và mắt đi, có nghề mới xuất hiện. Nghề là một việc làm có tính ồn định, đem lại thu nhập dé duy tri va phat triển cuộc sống cho mỗi người. Nghề không đơn giản chỉ để kiếm sống, mà còn là con đường đề chúng ta thể hiện và khăng định giá trị của bản thân.Sự thành đạt, nỗi tiếng của mỗi người, hầu hết đều gắn liền với nghề nghiệp của họ. Mỗi một nghề ra đời đều nhằm đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người, vì vậy, mỗi nghề đều có nhiệm vụ riêng của nó.Như nghề Y có nhiệm Vụ CỨu người, nghề Bộ đội có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nghề Kinh doanh có nhiệm vụ tạo ra lợi nhuận.

Sứ mệnh nghề nghiệp là nhiệm vụ quan trọng vả thiêng liêng của nghề.Ai lựa chọn ngành nghề nào thì cần phải hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của ngành nghề đó. Nghề nghiệp là những tri thức và kĩ năn g lao động mà người lao động có được trong quá trình huấn luyện chuyên môn hoặc qua thực tiễn , cho phép người đó có thê thực hiện được một loại hoạt động nhất định trong hệ thống phân công lao động xã hội. Cùng với quá trình phát triển kinh tế và khoa học - kĩ thuật, việc phân ngành, phân nghề ngày càng mở rộng và chuyên sâu. Trong hoạt động nghề nghiệp con người sử dụng sức lao động của minh dé tao ra sản phẩm vật chất, tinh thần đóng góp cho xã hội.

Thông qua hoạt động nghề con ngườiduy trì, phát triển đời sống cá nhân và góp phần duy trì và phát triển xã hội. Mỗi ngành nghề, mỗi công việc đều cần những quy tắc, chuân mực đặc trưng, nhất là những hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn hóa cao, càng cần những yêu cầu cao về chuẩn mực đạo đức, làm cơ sở đề điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động nghề nghiệp. Tác giả Mạc Văn Trang trong nghiên cứu “Tâm lý học sư phạm kỹ thuật” đã chỉ ra là: Trong xã hội có hàng trăm nghìn nghề với những chuyên môn khác nhau. Mỗi người hành nghề dù ở lĩnh vực nào đều phải thắm nhuan đạo đức chung của xã hội, đều phải mang trong mình những giá trị phô quát của nhân loại và của dân tộc.

Đạo đức nghề nghiệp nói chung không thể tách rời nền tảng đạo đức chung của mỗi con người. Tuy nhiên, mỗi một nghề, do tính đặc thù của nó, lại đòi hỏi người hành nghề có những tri thức, kỹ năng, thái độ đối với công việc, đối với khách hàng và đối với bản thân theo những yêu cầu khác nhau. Mỗi một lĩnh vực nghề nghiệp đều có chuẩn mực ĐĐNN chung: Ví dụ khi nói đến đạo đức của ngành y thì vấn đề “lương y như từ mẫu” được coi là một chuân mực đạo đức của ngành này. Trong thời kì chiến tranh, phẩm chất đạo đức “yêu xe như con, quí xăng như máu” là phâm chất ĐĐNNcủa người bộ đội lái xe thời kì đó.

Đối với ngành giáo dục, một khâu hiệu chung cho các cấp học là: “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Đó chính là ĐĐNN của người giáo viên. Với những người làm công tác dịch vụ xã hội thì: “Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi” là biểu hiện ĐĐNNcủa họ. Mỗi loại hình nghề nghiệp, luôn đặt ra cho những người trong lĩnh vực nghề nghiệp đó những yêu cầu, quy tắc, chuẩn mực mà họ phải tự giác thực hiện.

Có bao nhiêu loại nghề nghiệp thì cũng có bấy nhiêu loại đạo đức nghề nghiệp. Đề có được thành công trong sự nghiệp cá nhân, hoạt động nghề 10 nghiệp của mỗi người, trong bất kỳ lĩnh vực nào, cũng đều đòi hỏi phải nâng cao những chuẩn mực ĐĐNN. ĐĐNNIà những quan điểm, quy tắc và chuẩn mực hành vi đạo đức xã hội đòi hỏi phải tuân theo trong hoạt động nghề nghiệp. ĐĐNNIà đạo đức xã hội được thê hiện một cách đặc thù, cu thé trong các hoạt động nghề nghiệp.

Với tính cách là một dạng của đạo đức xã hội, nó có quan hệ chặt chẽ với đạo đức cá nhân và thể hiện thông qua đạo đức cá nhân. Đồng thời, do liên quan với hoạt động nghề và gắn liền với một kiểu quan hệ sản xuất trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nên đạo đức nghề nghiệp cũng mang tính giai cấp, tính dân tộc. Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận trong hệ thống đạo đức xã hội, là một loại đạo đức đã được thực tiễn hoá. ĐĐNNbao gồm hai yếu tố cơ bản: Thứ nhất, nói đến ĐĐNN là nói đến lương tâm nghề nghiệp.

Lương tâm nghề nghiệp là biểu hiện tập trung nhất của ý thức đạo đức cá nhân trong thực tiễn, nó vừa là dấu hiệu vừa là thước đo sự trưởng thành của đời song đạo đức cá nhân. Mỗi con người với tư cách một chủ thể đạo đức đã trưởng thành bao giờ cũng biểu hiện là người sống có lương tâm, mà rõ nét nhất là trong hoạt động nghề nghiệp của họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ