Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO THEO TIẾP CẬN ĐA CHIỀU 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHÈO THEO TIẾP CẬN ĐA CHIỀU 1. Khái niệm về nghèo và chuẩn nghèo ở Việt Nam 1. Khái niệm về nghèo Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về nghèo, thường được nhắc đến là “nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”.
* Theo nghĩa tuyệt đối, “nghèo khổ là một trạng thái mà các cá nhân thiếu những nguồn lực thiết yếu để có thể tồn tại” (Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt Phương, & Trịnh Huy Hóa, 2010). Quan niệm này phản ánh những phúc lợi kinh tế mà người nghèo nhận được về mặt tuyệt đối, chưa tính đến các phúc lợi xã hội khác được phân phối cho người nghèo. Tức là, ranh giới nghèo khổ được phản ánh thông qua chỉ tiêu mức sống tối thiểu, thể hiện mức độ nghèo trong thời gian nhất định của một tầng lớn dân cư. Khi các điều kiện và chính sách phát triển kinh tế thay đổi trong ngắn hạn hay dài hạn thì mức độ nghèo khổ cũng thay đổi.
Ranh giới nghèo khổ có thể được phản ánh qua mức dinh dưỡng tối thiểu hoặc nhu cầu thực phẩm tối thiểu theo nhu cầu cơ bản của con người. * Theo nghĩa tương đối, “nghèo khổ là tình trạng thiếu hụt các nguồn lực của các cá nhân hoặc nhóm trong tương quan của các thành viên khác trong xã hội, tức là so với mức sống tương đối của họ” (Bùi Thế Cường et al. Theo quan niệm này tình trang nghèo khổ phản ánh tình trạng tồn tại một bộ phận dân cư có mức sống thấp hơn mức bình quân của cộng đồng. Quan niệm nghèo khố theo nghĩa tương đối này được sử dụng trong các nghiên cứu về bất bình đẳng trong phối phối của cải xã hội, phản ánh sự chênh lệch về nguồn lực được phân chia.
Quan niệm này cho thấy, mức độ nghèo khổ là một chỉ tiêu động, thay đổi theo thời gian, không gian và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Như vậy, theo thời gian, quan niệm về nghèo khổ được thay đổi và có sự khác nhau tại các địa phương khác nhau. Ranh giới nghèo khổ hay không nghèo khổ được phản ánh thông qua mức độ thụ hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Ranh giới này cũng có sự biến động theo thời gian, nhưng điểm cốt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 lõi vẫn là nhu cầu cơ bản của con người.
Nếu nhu cầu cơ bản của con người được thỏa mãn thì không nghèo khổ, và ngược lại. Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu Á – TBD do ESCAP tổ chức tại Bangkok tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm và định nghĩa về nghèo đói: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận thùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”. Đây được xem là định nghĩa chung về nghèo đói, trong đó các chuẩn mực, tiêu chí đánh giá nghèo đói chưa được lượng hóa, chưa tính đến sự khác biệt giữa các địa phương, trình độ phát triển, điều kiện lịch sử. “Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen ở Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một số định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại.
Ngoài ra, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) - ông Abapia Sen, người được giải thưởng Nooben về kinh tế năm 1998, cho rằng: Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn.” (Trần Đình Thìn, 2018) Thực tế cho thấy có sự không thống nhất về quan điểm, khái niệm và đối với từng quốc gia khác nhau sẽ có chuẩn mực đánh giá khác nhau. Vì thế, trên cơ sở thống nhất chung về mặt định tính, mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi địa phương cần phải xác định thước đo mức nghèo đói của quốc gia, lãnh thổ, địa phương mình. Chuẩn nghèo tại Việt Nam Ở Việt Nam đói và nghèo thường được chia ra làm hai khái niệm riêng biệt: Nghèo được hiểu là: “Tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”.
Người nghèo và hộ nghèo thường xuyên gặp phải khó khăn trong tìm kiếm đủ nhu cầu vật chất cơ bản như lương thực. Do đó, họ không còn đủ thời gian để tìm kiếm các nhu cầu về văn hóa tinh thần khác. Điều này phản ánh rõ tại các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, tỷ lệ bỏ học của trẻ em cao, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nhà ở … Phần lớn thu nhập của người dân được sử dụng cho tiêu dùng cơ bản về lương thực. Đói được hiểu là “Tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống”.
“Sự nghèo khổ, sự bần cùng được biểu hiện là đói, là tình trạng con người không có cái ăn, ăn không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động, để tái sản xuất sức lao động. Về mặt năng lượng, nếu trong một ngày, con người chỉ được thỏa mãn mức 1500calo/ ngày thì đó là thiếu đói, dưới mức đó là đói gay gắt. Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dốt nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng (tương đương 45.
Đói nghèo ở nước ta, ngoài những đặc điểm xét về phương diện kinh tế, còn có những đặc điểm về phương diện xã hội.” (Lê Thanh Bình, 2018) Nhìn chung, khái niệm nghèo đói được hiểu là “Tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng.” Nghèo đói thường được phản ánh dưới ba khía cạnh: + Những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người không được thụ hưởng + Mức sống nhỏ hơn mức bình quân của cộng đồng nơi cư trú. + Không có cơ hội đầy đủ tham gia và tiếp cận váo quá trình phát triển chung của cộng đồng. “Ngưỡng nghèo hay mức nghèo, là mức chi dùng tối thiểu, được xác định như tổng số tiền chi cho giỏ hàng tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tối thiểu lương thực thực phẩm và đồ dùng cá nhân, cần thiết để bảo đảm cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành, và các khoản chi bắt buộc khác.” (Đặng Nguyên Anh, 2015) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 Người có tổng thu nhập tương đương với tổng mức chi tiêu dùng cơ bản của người đó được coi là ở ngưỡng nghèo. Tuy nhiên, phải đặt con người trong mối quan hệ của một gia đình để xem xét khi xây dựng chuẩn nghèo, do vậy khái niệm hộ nghèo cần được luận giải.
Có thể hiểu, “hộ nghèo là các hộ có thu nhập bình quân tính theo đầu người nằm dưới giới hạn nghèo”. Hoặc theo đánh giá chung của nhiều nước, “hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội”. Với quan niệm này, tại mỗi quốc gia, khi trình độ kinh tế và thu nhập có sự khác biệt thì quan niệm về mức độ đói nghèo cũng khác nhau. Như vậy, “quy mô nghèo đói của một vùng, một quốc gia được xác định bằng tỉ lệ số hộ nghèo đói trên tổng số hộ dân cư thuộc vùng hoặc quốc gia đó.
Ngưỡng nghèo thường được luật hóa trong các quy định của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ngưỡng nghèo tại các quốc gia đang phát triển cao hơn nhiều so với các quốc gia phát triển. Như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo đói hay nghèo khổ, nguyên nhân là chưa có một tiêu chuẩn chung về nghèo đói cho tất cả các quốc gia, các vùng địa lý khác nhau. “Đói nghèo là một khái niệm động, nó còn thay đổi theo thời gian và không gian để định nghĩa ngày càng hoàn thiện hơn.” Ở nước ta, các cơ quan trong nước và quốc tế đã đưa ra những chuẩn mực để xác định tình hình nghèo đói khi có chủ trương xóa đói giảm nghèo.
Từ năm 2015 trở về trước, Việt Nam chủ yếu xác định chuẩn nghèo theo chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc theo năm. Chỉ tiêu này được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực quy thóc để đánh giá. Ngoài ra còn một số chỉ tiêu chế độ dinh dưỡng (calo/người), mức chi nhà ở, chi ăn mặc, chi tư liệu sản xuất, điều kiện học tập, điều kiện chữa bệnh, đi lại. Các tiêu chí đánh giá nghèo khác như chỉ số phát triển con người (HDI), Chỉ số hành tinh hạnh phúc (HPI) cũng đã được sử dụng, nhưng chủ yếu là sử dụng trong các công trình nghiên cứu kinh tế xã hội hoặc tính toán trên phạm vi quốc gia để xác định mức độ phát triển trong so sánh với các nước khác trên thế giới.
Tại Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện việc điều tra, khảo sát các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ, căn cứ vào đề xuất đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo cho từng giai đoạn cụ thể.