Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN 1. QUYỀN TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC TRONG GIẢI QUYẾT TỐ CÁO 1. Tố cáo và quyền tố cáo của công dân 1. Tố cáo Theo Từ điển Tiếng Việt thì tố cáo là “báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó” hay “là vạch rõ tội lỗi của kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận” [51, tr.
Tố cáo là biểu hiện sự bất bình của người này về hành vi của người khác và báo cho cơ quan, tổ chức, người khác biết để có thái độ, biện pháp giải quyết. Tố cáo phản ánh những điều bất ổn đang diễn ra trong xã hội, cần được những thiết chế chính trị - xã hội có phương thức giải quyết. Quyền tố cáo, quyền công dân là những giá trị xã hội, thuộc về mỗi cá nhân con người. Sự thụ hưởng, chọn lọc quyền này tùy thuộc vào mỗi cá nhân.
Bản chất của tố cáo được xem xét dưới các khía cạnh sau đây: Một là, chủ thể thực hiện quyền tố cáo chỉ là công dân. Khác với khiếu nại, là cả công dân, cơ quan, tổ chức đều có quyền khiếu nại. Quy định này nhằm cá thể hoá trách nhiệm của người tố cáo, nếu có hành vi cố ý tố cáo sai sự thật thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật. Hai là, đối tượng tố cáo là các hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Luật Tố cáo quy định có hai loại hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo gồm: (1) hành vi vi 9 e phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; (2) hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực. Ba là, chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Về nguyên tắc, người tố cáo có thể tố cáo hành vi vi phạm pháp luật đến cơ quan nhà nước. Trong trường hợp người tố cáo bằng đơn mà tố cáo đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhận được đơn thì cơ quan đó có trách nhiệm chuyển đơn tố cáo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp mà tố cáo đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tiếp nhận thì người tiếp nhận có trách nhiệm hướng dẫn người tố cáo đến tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. Bốn là, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo bao gồm: (1) Thụ lý tố cáo; (2) Xác minh nội dung tố cáo; (3) Kết luận nội dung tố cáo; (4) Xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo. Năm là, bản chất của kết quả giải quyết tố cáo, nếu người bị tố cáo vi phạm pháp luật thì áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật; nếu hành vi vi phạm của người bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì chuyển vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để giải quyết tố cáo; trường hợp người bị tố cáo không vi phạm thì phải thông báo bằng văn bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâ phạm, đồng thời xử lý hoặc kiến nghị xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật. Như vậy, bản chất của tố cáo là việc người tố cáo báo cho người có thẩm quyền giải quyết tố cáo biết về hành vi vi phạm pháp luật mà hành vi đó chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (không phải là tội phạm) thuộc 10 e thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước theo quy định của Luật Tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Quyền tố cáo Công dân có quyền tố cáo là một nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân do Nhân dân vì Nhân dân. Quyền lực nhà nước bao hàm cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đều thuộc về Nhân dân. Nhân dân có quyền tham gia vào quản lý nhà nước.
Nhà nước do Nhân dân được hiểu là Nhân dân có quyền giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước và cán bộ công chức, viên chức nhà nước. Quyền tố cáo của công dân như đã phân tích ở trên là quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân. Quyền tố cáo của công dân là để đối trọng và ngăn cản, hạn chế quyền lực nhà nước nhằm bảo vệ quyền lực nhân dân, quyền và tự do của con người. Hạn chế quyền lực nhà nước ở đây được hiểu là quyền tố cáo của công dân được thực hiện để chống các hành vi lạm quyền, cửa quyền sách nhiễu người dân, lãng phí tham nhũng tài sản công, tài chính công, góp phần xây dựng, làm trong sạch bộ máy nhà nước.
Quyền tố cáo của công dân phản ánh sự phát triển của nền dân chủ và mang đặc điểm xã hội, chịu sự chi phối của điều kiện tồn tại xã hội. Mức độ thực hiện quyền tố cáo tác động trở lại sự phát triển xã hội. Quyền tố cáo, quyền công dân thể hiện truyền thống và văn hóa dân tộc. Quyền phát triển dưới ảnh hưởng của những điều kiện về tư tưởng, văn hóa, truyền thống, dân tộc, tôn giáo… Phạm vi thực hiện quyền tố cáo được xác định chặt chẽ bằng pháp luật của Nhà nước.
Trách nhiệm của Nhà nước là tạo khuôn khổ pháp lý cho quyền tố cáo thông qua quy định về nội dung cụ thể của quyền, trách nhiệm pháp lý của mỗi cá nhân, tổ chức. Nghiêm cấm việc cản trở người khác thực 11 e hiện quyền tố cáo, hoặc lợi dụng, lạm dụng quyền hoặc trốn tránh nghĩa vụ pháp lý khi bị tố cáo. Về phương diện chính trị - pháp lý, quyền tố cáo được các văn bản pháp luật quốc tế về quyền con người ghi nhận và bảo đảm các quốc gia trên thế giới đều tham gia và cam kết thực hiện các công ước quốc tế về quyền con người. Vì vậy Hiến pháp của các quốc gia đó đã ghi nhận, bảo vệ quyền tố cáo của công dân.
Đồng thời được cụ thể hóa và đảm bảo thực hiện quyền tố cáo bởi các Luật và Văn bản hướng dẫn thi hành luật. Khoản 3, Điều 2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: Các quốc gia thành viên Công ước cam kết: a) Bảo đảm rằng bất cứ người nào bị xâm phạm các quyền và tự do như được công nhận trong Công ước này đều nhận được các biện pháp khắc phục hiệu quả, cho dù sự xâm phạm này là do hành vi của những người thừa hành công vụ gây ra; b) Bảo đảm rằng bất kỳ người nào có yêu cầu về các biện pháp khắc phục sẽ được các cơ quan tư pháp, hành pháp hoặc lập pháp có thẩm quyền hoặc bất kỳ cơ quan nào khác có thẩm quyền do hệ thống pháp luật của quốc gia quy định, xác định quyền lợi cho họ và sẽ mở rộng khả năng áp dụng các biện pháp khắc phục mang tính tư pháp; c) Đảm bảo rằng các cơ quan có thẩm quyền sẽ thi hành các biện pháp khắc phục đã được đề ra [tr. Pháp luật một số quốc gia trên thế giới thừa nhận tố cáo là quyền của công dân, được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Trung Quốc, Singapore, Anh, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc đều quy định về quyền này và có thiết chế đảm bảo thực hiện.
Nhiều nước quy định bất kỳ công dân nào cũng có quyền báo cho cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật (hoặc nghi ngờ hành vi 12 e vi phạm) của bất cứ cá nhân, tổ chức nào cho cơ quan có thẩm quyền. Đối với các hành vi phạm tội về tham nhũng, hành vi phạm tội nói chung, tố cáo không chỉ là quyền mà là nghĩa vụ của công dân. Một số nước quy định các biện pháp khuyến khích để quyền tố cáo được thực hiện đầy đủ và mở rộng. Hàn Quốc, Nêpan, Pakixtan quy định mức thưởng cho những người có thông tin phát hiện chính xác về tham nhũng… Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tham gia và cam kết thực hiện các Công ước Quốc tế về quyền con người nêu trên.
Vì vậy quyền tố cáo của công dân được các bản Hiến pháp ghi nhận và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Gần đây nhất là Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013, ghi nhận tại Khoản 1, Điều 30: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [tr. Khoản 2, Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy định: Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức [tr. Khoản 1, Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 quy định: Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức [tr.