Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THANH NIÊN NÔNG THÔN 1.Cơ sở lý luận về việc làm cho lao động thanh niên nông thôn 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm và phân loại việc làm * Khái niệm việc làm: Theo từ điển kinh tế thị trường: “Việc làm là hành vi của nhân viên, có năng lực lao động, thông qua hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sản xuất, để được thù lao hoặc thu nhập kinh doanh". Với quan niệm này, việc làm được coi là quá trình hoạt động sản xuất của cải vật chất, tinh thần cho xã hội.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay, để phát huy tốt các nguồn lực xã hội, nhất là nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, có rất nhiều hoạt động lao động của con người sẽ không được xem là việc làm. Ví dụ như những hoạt động: bảo đảm sự ổn định phát triển của xã hội, hỗ trợ cho những người thân tham gia trực tiếp sản xuất, kinh doanh,. để có thu nhập ổn định không được tính đến. Theo các tác giả Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung, “Việc làm là hoạt động lao động được thể hiện ở một trong ba dạng sau: (i) Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền hoặc bằng hiện vật cho công việc đó; (ii) Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân; (iii) Làm các công việc cho gia đình“ [45].
Với quan điểm này, vấn đề việc làm được quan niệm một cách rộng rãi hơn. Ở đây, ngoài những hoạt động mang lại thu nhập (như tiền lương, tiền công, lợi nhuận), các công việc gia đình tuy không trực tiếp mang lại thu nhập cũng được xem là việc làm. Song, quan điểm này vẫn còn chưa đề cập đến một số hoạt động khác như hoạt động của các lực lượng vũ trang và chưa đề cập đến vấn đề pháp lý của việc làm. 6 Theo điều 9, chương II của Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2012, khái niệm việc làm được định nghĩa là “hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”.
Bản thân tác giả quan niệm: Việc làm là các hoạt động mang lại thu nhập cho người lao động, không bị pháp luật cấm, bao gồm (1) các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền mặt hoặc hiện vật;(2) các công việc tự làm để tạo thu nhập cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công (bằng tiền mặt hoặc hiện vật) cho công việc đó, gọi là việc làm tự tạo. Khái niệm “việc làm tự tạo” liên quan đến việc tự quản lý và sở hữu một cơ sở sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Qua đó, việc làm cho thanh niên nông thôn là quá trình các chủ thể (nhà nước, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức và bản thân người thanh niên) tạo và tự tạo ra các công việc mới cho thanh niên nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. * Phân loại việc làm: - Việc làm thanh niên và việc làm của người trưởng thành (theo nhóm tuổi) Việc làm thanh niên: là việc làm của những người thuộc nhóm tuổi thanh niên.
Theo quy định của từng quốc gia mà độ tuổi thanh niên được xác định khác nhau, có nước thanh niên được xác định ở độ tuổi từ 15 - 24 tuổi, hoặc 25 đến trước 29, 30 tuổi. Theo ILO, việc làm thanh niên bao hàm độ tuổi từ 15 - 24 tuổi. Việc làm của người trưởng thành: là việc làm của những người trên tuổi thanh niên đến tuổi nghỉ hưu theo quy định của từng quốc gia có thể 55, 60, 62, 65 hoặc 67 tuổi. - Việc làm chính thức và phi chính thức Việc làm chính thức: Theo UNDP (2012) việc làm chính thức là việc làm thường là có đăng ký, được điều chỉnh thông qua các quy định của chính phủ, luật và/hoặc là bảo trợ xã hội chính thức như nghỉ phép được hưởng 7 lương, có bảo hiểm việc làm và lương hưu.
Việc làm chính thức diễn ra trong cả khu vực tư và khu vực công và được hệ thống hóa trong luật. Việc làm phi chính thức: Khái niệm việc làm phi chính thức có cơ sở từ khái niệm kinh tế phi chính thức. Kinh tế phi chính thức bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế của người lao động và các đơn vị kinh tế mà theo luật hoặc thông lệ không được tổ chức một cách chính thức. Ở các nước đang phát triển và các nước quá độ, kinh tế phi chính thức đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm cũng như tạo thu nhập và đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế.
Đồng thời kinh tế phi chính thức đặt ra nhiều thách thức cho các nhà hoạch định chính sách khi cố gắng hướng tới mục tiêu “việc làm đầy đủ và năng suất bền vững cho tất cả mọi người” kể cả các vấn đề liên quan đến điều kiện làm việc, bảo trợ xã hội và luật pháp cho người lao động. - Việc làm công hưởng lương và việc làm tự tạo. Theo chủ thể trả lương cho lao động, việc làm có thể được phân nhóm thành việc làm công ăn lương và việc làm tự tạo. Việc làm công hưởng lương là việc làm theo thỏa thuận giữa người thuê (chủ sử dụng lao động) và người lao động để được hưởng một mức lương nào đó.
Việc làm tự tạo là việc làm do bản thân người lao động tự làm và tự trả công cho chính mình. “Tự tạo việc làm là quá trình mà người lao động kết hợp sức lao động của bản thân và của những người khác với tư liệu sản xuất mà họ sở hữu hoặc tự bỏ chi phí đầu tư nhằm đem lại thu nhập hợp pháp” 1. Thanh niên và thanh niên nông thôn Thanh niên là khái niệm được sử dụng nhiều trong cuộc sống hàng ngày với nhiều cách hiểu khác nhau. Tùy theo từng trường hợp, có khi thanh niên dùng để chỉ một con người cụ thể, có khi lại dùng để chỉ tính cách, phong cách của người nào đó, cũng có khi lại được dùng để chỉ cả một lớp người trẻ tuổi.
Thanh niên còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học; tùy theo góc độ tiếp cận của mỗi ngành mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên. 8 Về mặt sinh học, thanh niên được coi là một giai đoạn phát triển trong cuộc đời con người, bởi từ đây các em bước sang một giai đoạn mới để trở thành người lớn, người trưởng thành. Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên gắn với các đặc điểm tâm lý lứa tuổi và coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt với các lứa tuổi khác. Từ góc độ xã hội học, thanh niên lại được nhìn nhận là một giai đoạn xã hội hóa - thời kỳ kết thúc của tuổi thơ phụ thuộc chuyển sang xác lập vai trò cá nhân qua các hoạt động độc lập với tư cách đầy đủ của một công dân, là một trong các chủ thể của các mối quan hệ xã hội.
Các nhà kinh tế học lại nhấn mạnh thanh niên với góc độ là một lực lượng lao động hùng hậu, là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ những người lao động trên các lĩnh vực sản xuất… Đặc điểm chung về mặt sinh học của thanh niên là giai đoạn kết thúc tuổi thiếu niên, đạt tới đỉnh cao của sự trưởng thành. Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong sự phát triển của cá thể con người. Xác định giai đoạn này thường được biểu hiện một cách tập trung ở việc xác định độ tuổi thanh niên. Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm của từng thời đại lịch sử, các yếu tố truyền thống của từng quốc gia, dân tộc,… mà quy định về độ tuổi thanh niên có sự khác nhau giữa các quốc gia.
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới quy định độ tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 tuổi; nhưng tuổi kết thúc lại khác nhau khá nhiều. Có nước quy định là 25 tuổi (hầu hết các nước phương Tây), có nước quy định là 30 tuổi (Philippin, Hàn Quốc…), một số nước khác lại quy định là 35 tuổi (Ấn Độ, Maldives…). Ở nước ta, theo Luật Thanh niên năm 2005 “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi”. Tuỳ theo môi trường hoạt động, đặc điểm nghề nghiệp, người ta chia thanh niên thành các nhóm đối tượng khác nhau Thanh niên công nhân, thanh niên nông thôn, thanh niên trong lực lượng vũ trang.
Như vậy có thể hiểu thanh niên nông thôn là những người thanh niên sinh sống ở khu vực nông thôn. 9 Trong đề tài này, thanh niên được nghiên cứu chủ yếu dưới góc độ kinh tế học và phù hợp với độ tuổi lao động được quy định theo pháp luật của Việt Nam. Thanh niên nông thôn là thanh niên sống ở vùng nông thôn, mà ở đó khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn phường thuộc thị xã, quận và thành phố. Khái niệm và vai trò của tạo việc Có thể hiểu tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường.
Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất là quá trình người lao động làm việc. Người lao động làm việc không chỉ tạo ra thu nhập cho riêng họ mà còn tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội. Vì vậy, tạo việc làm không chỉ là nhu cầu chủ quan của người lao động mà còn là yếu tố khách quan của xã hội. Việc hình thành việc làm thường là sự tác động đồng thời giữa ba yếu tố - Nhu cầu thị trường.
- Điều kiện cần thiết để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ. + Người lao động (sức lực và trí lực). + Công cụ sản xuất. + Đối tượng lao động.
- Môi trường xã hội Xét cả góc độ kinh tế, chính trị, pháp luật, xã hội. Có thể mô hình hoá quy mô tạo việc làm theo phương trình sau Y = f (C,V,X,…) Trong đó Y Số lượng việc làm được tạo ra C Vốn đầu tư V Sức lao động X Thị trường tiêu thụ sản phẩm… Trong đó, quan trọng nhất là các yếu tố đầu tư (C) và sức lao động (V). 10 Hai yếu tố này hợp thành năng lực sản xuất. Mối quan hệ giữa C và V phụ thuộc vào tình trạng công nghệ và tồn tại dưới dạng khả năng.