Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đang tạo ra những bước chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế, kéo theo nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên quy mô lớn. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, giai đoạn 2012–2017 cả nước đã thu hồi khoảng 436.000 ha đất nông nghiệp, chiếm gần 4% tổng diện tích đất nông nghiệp toàn quốc, tác động trực tiếp đến đời sống của hơn 727.000 hộ gia đình với xấp xỉ 1.150.000 lao động nông thôn. Trong bối cảnh đó, có tới 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% rơi vào tình trạng thiếu việc làm hoặc không có việc làm ổn định.

Tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, thực hiện chủ trương phát triển công nghiệp nông thôn, địa phương đã được quy hoạch xây dựng 04 cụm công nghiệp với tổng diện tích 174 ha. Việc hình thành các cụm công nghiệp này mở ra cơ hội chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương nhưng đồng thời tước đi tư liệu sản xuất cốt lõi của hàng nghìn hộ nông dân, đặt ra thách thức gay gắt về vấn đề việc làm và an sinh xã hội.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp của tác giả Đinh Đức Thọ, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Đình Hòa tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (2019), tập trung giải quyết bài toán căn bản: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho các hộ bị thu hồi đất tại các cụm công nghiệp huyện Nho Quan giai đoạn 2016–2018, chỉ ra các yếu tố chi phối và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển việc làm bền vững đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Đề tài mang lại giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ định lượng giúp các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách an sinh, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống cho nông dân sau thu hồi đất.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận kinh tế học và các học thuyết phát triển nông thôn tiêu biểu. Trước hết, luận văn vận dụng lý thuyết kinh tế hộ nông dân của Frank Ellis (1988), khẳng định đất đai là tư liệu sản xuất đặc thù, đóng vai trò nền tảng bảo đảm sinh kế lâu dài của hộ gia đình; khi đất đai bị thu hồi, chu trình sản xuất truyền thống bị đứt gãy, buộc hộ phải tái cấu trúc nguồn lực lao động và vốn. Tiếp đó, nghiên cứu kế thừa quan điểm kinh tế chính trị của Ph.Ăngghen về bản chất sáng tạo của lao động và tiêu chuẩn việc làm bền vững theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), định nghĩa việc làm là hoạt động có năng suất, tạo thu nhập công bằng, bảo đảm an toàn và bảo vệ xã hội.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Việc làm chính thức và việc làm phi chính thức: Phân định giữa công việc có hợp đồng, thu nhập ổn định với các công việc thời vụ bấp bênh lúc nông nhàn.
  • Thiếu việc làm: Căn cứ quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đối với người làm việc dưới 40 giờ mỗi tuần nhưng có nhu cầu và sẵn sàng làm thêm.
  • Thất nghiệp cơ cấu: Hiện tượng mất việc làm do sự mất cân đối giữa trình độ, kỹ năng của lao động nông nghiệp với yêu cầu công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp mới.
  • Đất nông nghiệp và thu hồi đất: Tiếp cận chuẩn xác theo Điều 10 và Điều 114 Luật Đất đai năm 2013 cùng Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ tái định cư.

Khung phân tích sinh kế bền vững được tích hợp để đánh giá toàn diện sự biến đổi của 5 nguồn vốn sinh kế: vốn tự nhiên (đất đai bị thu hẹp), vốn con người (học vấn, độ tuổi, tay nghề), vốn vật chất (nhà ở, hạ tầng), vốn tài chính (tiền đền bù, vốn vay) và vốn xã hội (mối quan hệ cộng đồng, tổ chức làng xã).

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp hài hòa giữa phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan, khoa học:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp các báo cáo kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, số liệu thống kê dân số, việc làm của huyện Nho Quan và tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2016–2018; đồng thời đối sánh dữ liệu thực tiễn tại các tỉnh có tốc độ công nghiệp hóa cao như Bắc Ninh (hơn 110.000 lao động chuyển đổi) và Quảng Nam (hơn 20.000 lao động được tư vấn việc làm).
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp và chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với quy mô khảo sát từ 150 đến 200 hộ nông dân bị thu hồi đất tại các xã có cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Nho Quan trong năm 2018. Mẫu điều tra được phân chia theo 3 nhóm mức độ mất đất: thu hồi dưới 30%, thu hồi từ 30% đến 70%, và thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác sự khác biệt về mức độ tổn thương sinh kế giữa các nhóm hộ thuần nông và hộ kiêm ngành nghề.
  • Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tổ thống kê, phân tích so sánh trước - sau thu hồi đất, cùng các chỉ tiêu phản ánh năng suất, thu nhập bình quân đầu người và cơ cấu chi tiêu hộ. Phương pháp này cho phép lượng hóa chính xác tác động của việc mất đất đến chuyển dịch cơ cấu việc làm và phân hóa thu nhập gia đình.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực nghiệm tại huyện Nho Quan giai đoạn 2016–2018 đã chỉ ra những chuyển dịch rõ nét nhưng còn nhiều bất cập trong cơ cấu kinh tế và việc làm của hộ nông dân sau khi bàn giao đất cho 04 cụm công nghiệp:

  1. Chuyển dịch mạnh về cơ cấu lao động nhưng tính bền vững chưa cao: Trước khi thu hồi đất, tỷ lệ lao động nông nghiệp thuần túy chiếm trên 80% tổng số lao động trong độ tuổi của các hộ. Sau thu hồi đất, tỷ lệ này giảm mạnh xuống còn khoảng 35%. Tỷ lệ lao động chuyển sang làm việc tại các nhà máy trong cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại tăng lên xấp xỉ 45%. Đáng chú ý, vẫn còn khoảng 20% lao động rơi vào tình trạng thiếu việc làm, việc làm thời vụ hoặc mất việc hoàn toàn do không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng.

  2. Phân hóa thu nhập và bất cập trong sử dụng tiền đền bù: Khoảng 54% số hộ điều tra có thu nhập thực tế giảm hoặc bấp bênh hơn so với thời kỳ còn đất canh tác, trong khi nhóm hộ có thu nhập tăng chỉ chiếm khoảng 13% đến 18% (chủ yếu là các hộ chuyển đổi thành công sang kinh doanh dịch vụ hoặc có nhiều lao động trẻ làm việc tại cụm công nghiệp). Về hành vi tài chính, trên 60% tổng nguồn tiền đền bù được người dân chi dùng vào việc xây dựng, nâng cấp nhà ở và mua sắm trang thiết bị tiện nghi gia đình; tỷ lệ đầu tư trực tiếp vào mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc học nghề chuyên sâu chỉ dao động từ 15% đến 20%.

  3. Tác động phân hóa sâu sắc của trình độ học vấn và độ tuổi: Nhóm lao động dưới 35 tuổi có trình độ trung học phổ thông hoặc qua đào tạo nghề sơ cấp có tỷ lệ tuyển dụng vào các doanh nghiệp cụm công nghiệp đạt trên 70%. Ngược lại, nhóm lao động trên 45 tuổi với trình độ học vấn trung học cơ sở trở xuống có tỷ lệ tìm được việc làm chính thức dưới 15%, chủ yếu phải quay lại làm nông nghiệp trên diện tích đất còn lại hoặc làm các công việc tự do thu nhập thấp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng chuyển dịch việc làm tại huyện Nho Quan phản ánh quy luật chuyển đổi sinh kế điển hình tại các vùng nông thôn Bắc Bộ khi tiếp nhận làn sóng đầu tư công nghiệp. Việc một bộ phận lớn lao động không thể gia nhập thị trường lao động chính thức bắt nguồn từ "độ trễ" trong chính sách đào tạo nghề và tâm lý ỷ lại vào tiền bồi thường đất trong ngắn hạn.

Khi so sánh với kinh nghiệm thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh – nơi chính quyền kết hợp chặt chẽ giữa Sở Lao động - Thương binh và Xã hội với các doanh nghiệp để tổ chức đào tạo theo đơn đặt hàng và cung cấp kiến thức pháp luật lao động – tỷ lệ lao động trúng tuyển tại Nho Quan còn thấp hơn do thiếu sự gắn kết cung - cầu. Tương tự, so với mô hình hỗ trợ vốn vay ưu đãi kết hợp phát triển làng nghề truyền thống của tỉnh Quảng Nam, việc hỗ trợ chuyển đổi nghề tại Nho Quan mới dừng lại ở mức trợ cấp tài chính ngắn hạn mà chưa hình thành hệ sinh thái sinh kế đa dạng.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy có thể mô hình hóa mối quan hệ giữa các biến số thông qua bảng phân tích tương quan giữa chi phí đầu tư học nghề với mức tăng trưởng thu nhập bình quân, cũng như biểu đồ phân bổ thời gian lao động hữu ích trong năm. Kết quả khẳng định: Hộ gia đình nào chủ động phân bổ từ 30% tiền đền bù trở lên vào tích lũy vốn con người và sản xuất kinh doanh thì mức thu nhập sau 2 năm thu hồi đất cao hơn 1,5 đến 2 lần so với nhóm hộ chỉ sử dụng tiền đền bù cho tiêu dùng sinh hoạt.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để bài toán việc làm và nâng cao đời sống cho các hộ bị thu hồi đất tại các cụm công nghiệp huyện Nho Quan đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo nghề gắn với nhu cầu cụm công nghiệp: Ủy ban nhân dân huyện Nho Quan chủ trì, phối hợp với Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện và các doanh nghiệp trong 04 cụm công nghiệp tiến hành khảo sát nhu cầu tuyển dụng thực tế. Xây dựng chương trình đào tạo nghề theo địa chỉ với thời gian linh hoạt từ 3 đến 6 tháng, tập trung vào các ngành may mặc, cơ khí, chế biến. Mục tiêu giai đoạn 2020–2025 nâng tỷ lệ lao động bị thu hồi đất được đào tạo nghề đạt trên 65%, trong đó tối thiểu 80% học viên có việc làm ngay sau tốt nghiệp.

  2. Hoàn thiện cơ chế ràng buộc trách nhiệm tuyển dụng của doanh nghiệp đầu tư: Ban Quản lý các cụm công nghiệp và Ủy ban nhân dân huyện Nho Quan đưa điều khoản ưu tiên tiếp nhận lao động địa phương vào hồ sơ cam kết đầu tư. Quy định các doanh nghiệp hoạt động trong cụm công nghiệp phải ưu tiên tuyển dụng tối thiểu 30% đến 40% lực lượng lao động phổ thông là người thuộc các hộ bị thu hồi đất trên địa bàn, ký kết hợp đồng lao động chính thức từ 12 tháng trở lên và thực hiện đầy đủ bảo hiểm xã hội.

  3. Đa dạng hóa nguồn vốn tín dụng chính sách và hỗ trợ khởi nghiệp: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Nho Quan mở rộng hạn mức cho vay ưu đãi theo Quyết định 63/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ưu tiên 100% hộ bị thu hồi từ 30% diện tích đất nông nghiệp trở lên được tiếp cận nguồn vốn lãi suất thấp. Hướng dẫn người dân cách thức lập phương án sản xuất kinh doanh, chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp công nghệ cao, trồng cây đặc sản hoặc dịch vụ vận tải, thương mại phục vụ cụm công nghiệp, phấn đấu tăng thu nhập bình quân hộ từ 15% đến 20% vào năm 2025.

  4. Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động và dịch vụ an sinh xã hội: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nho Quan định kỳ tổ chức các phiên giao dịch việc làm lưu động tại các xã có đất bị thu hồi. Thành lập các tổ tư vấn hướng nghiệp cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức của người dân về quản lý tài chính sau đền bù, hạn chế tệ nạn xã hội và định hướng nghề nghiệp bền vững cho lao động trung niên trên 45 tuổi thông qua các tổ hợp tác dịch vụ vệ sinh, môi trường, kho vận.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và số liệu thực chứng sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cấp ủy chính quyền địa phương: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện và các phòng chuyên môn (Nông nghiệp, Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài nguyên và Môi trường) tại tỉnh Ninh Bình và các địa phương có bối cảnh tương đồng. Luận văn là cơ sở thực tiễn để rà soát quy hoạch đất đai, hoàn thiện phương án bồi thường, tái định cư và xây dựng đề án đào tạo nghề sát với thực tế địa bàn.

  2. Chủ đầu tư hạ tầng và doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp: Ban Quản lý các cụm công nghiệp, các nhà đầu tư hạ tầng và doanh nghiệp tuyển dụng. Tài liệu giúp doanh nghiệp nắm bắt đặc điểm tâm lý, trình độ tay nghề của nguồn nhân lực sở tại, từ đó thiết kế chính sách tuyển dụng, đào tạo nội bộ hài hòa, xây dựng mối quan hệ cộng đồng bền vững.

  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên chuyên ngành Kinh tế: Các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế, Phát triển nông thôn và Xã hội học. Luận văn đóng vai trò tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu định lượng, khung lý thuyết sinh kế và nguồn trích dẫn học thuật đáng tin cậy.

  4. Các tổ chức chính trị - xã hội và đại diện cộng đồng nông dân: Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ cấp cơ sở. Nghiên cứu cung cấp góc nhìn thực tế giúp các tổ chức hội đẩy mạnh công tác tư vấn, hỗ trợ hội viên tiếp cận vốn vay ưu đãi, lựa chọn ngành nghề phù hợp và quản lý nguồn tiền đền bù an toàn, tránh rủi ro phá sản.

Câu hỏi thường gặp

Quá trình thu hồi đất tại các cụm công nghiệp huyện Nho Quan tác động thế nào đến cơ cấu việc làm của người dân? Việc thu hồi 174 ha đất phục vụ 04 cụm công nghiệp đã làm giảm tỷ lệ lao động thuần nông từ trên 80% xuống còn khoảng 35%. Khoảng 45% lao động chuyển dịch thành công sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, vẫn còn xấp xỉ 20% lao động thiếu việc làm hoặc làm nghề tự do bấp bênh do thiếu hụt kỹ năng nghề nghiệp.

Nguyên nhân chính khiến hơn một nửa số hộ nông dân bị giảm thu nhập sau thu hồi đất là gì? Khoảng 54% số hộ bị giảm thu nhập do mất đi tư liệu sản xuất chính trong khi chưa kịp thích ứng với công việc phi nông nghiệp. Thêm vào đó, hơn 60% tiền đền bù bị dồn vào việc xây nhà và mua sắm tài sản tiêu dùng thay vì tái đầu tư sinh lời, khiến dòng tiền của hộ gia đình cạn kiệt nhanh chóng sau 1 đến 2 năm.

Những yếu tố nào tác động mạnh nhất đến khả năng tìm kiếm việc làm mới của nông dân? Nghiên cứu chỉ ra 4 yếu tố then chốt: Trình độ học vấn của chủ hộ, độ tuổi lao động, tỷ lệ thành viên được đào tạo nghề kỹ thuật và quy mô lao động trong gia đình. Lao động dưới 35 tuổi có chứng chỉ nghề đạt tỷ lệ có việc làm ổn định trên 70%, cao gấp gần 5 lần so với nhóm lao động trên 45 tuổi chưa qua đào tạo.

Doanh nghiệp tại các cụm công nghiệp cần làm gì để hỗ trợ giải quyết việc làm cho người dân mất đất? Doanh nghiệp cần phối hợp với chính quyền địa phương cam kết tuyển dụng tối thiểu 30% đến 40% lao động tại chỗ; đồng thời chủ động mở các lớp đào tạo nghề sơ cấp, bổ túc tác phong công nghiệp ngay tại nhà máy nhằm giúp lao động nông nghiệp đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của dây chuyền sản xuất hiện đại.

Bài học kinh nghiệm nào từ các tỉnh bạn có thể áp dụng hiệu quả tại huyện Nho Quan? Nho Quan có thể học tập mô hình của tỉnh Bắc Ninh trong việc đào tạo nghề có địa chỉ gắn chặt với nhu cầu cụm công nghiệp (đã chuyển đổi thành công cho hơn 110.000 lao động), cùng mô hình phát triển vốn vay ưu đãi gắn với hợp tác xã làng nghề truyền thống của tỉnh Quảng Nam để tạo việc làm tại chỗ cho lao động lớn tuổi.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện bức tranh chuyển dịch việc làm và sinh kế của các hộ nông dân tại 04 cụm công nghiệp huyện Nho Quan quy mô 174 ha giai đoạn 2016–2018.
  • Chỉ rõ nghịch lý chuyển đổi: Tỷ lệ lao động công nghiệp - dịch vụ tăng lên 45%, nhưng vẫn tồn tại 20% lao động thiếu việc làm và hơn 60% tiền đền bù bị sử dụng vào tiêu dùng phi sản xuất.
  • Lượng hóa các yếu tố quyết định thu nhập hộ, khẳng định vai trò mang tính sống còn của trình độ chuyên môn kỹ thuật và tính hợp lý trong phân bổ nguồn lực tài chính sau đền bù.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa đào tạo nghề theo địa chỉ, ràng buộc trách nhiệm doanh nghiệp, trợ lực tín dụng chính sách và sàn giao dịch việc làm đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
  • Đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc phục vụ công tác quy hoạch kinh tế - xã hội, bảo đảm mục tiêu phát triển công nghiệp đi đôi với an sinh xã hội bền vững tại địa phương.

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học và các tổ chức phát triển nông thôn. Hãy khai thác ngay toàn văn luận văn để ứng dụng hiệu quả các giải pháp chuyển đổi sinh kế và tạo việc làm bền vững cho người nông dân trong tiến trình công nghiệp hóa!