Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của công tác quản lý môi trường 1. Một số khái niệm cơ bản * Môi trường là gì? Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Luật Bảo vệ môi trường, 2014) *Chức năng của môi trường sống Theo giáo trình sinh thái học, đối với sinh vật nói chung và con người nói riêng thì môi trường sống có các chức năng cơ bản sau: Môi trường là không gian sống của con người và sinh vật. Trong quá trình tồn tại và phát triển con người cần có các nhu cầu tối thiểu về không khí, độ ẩm, nước, nhà ở,…cũng như các hoạt động vui chơi giải trí khác.
Yêu cầu về không gian sống của con người thay đổi tùy theo trình độ khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, trong việc sử dụng không gian sống và quan hệ với tự nhiên, có hai tính chất mà con người cần chú ý là tính tự cân bằng (homestasis), nghĩa là khả năng của các hệ sinh thái có thể gánh chịu trong điều kiện khó khăn nhất và tính bền vững của hệ sinh thái. Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất con người. Trong quá trình phát triển của loài người đã trả qua nhiều giai đoạn.
Nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên không ngừng tăng lên về cả số lượng, chất lượng và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của xã hội. Môi trường là nơi đồng hóa các chất thải của con người trong quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường. Tại đây các chất thải dưới tác động của vi sinh vật và các yếu tố môi trường khác sẽ bị phân hủy, biến đổi từ phức tạp thành đơn giản và tham gia và hàng loạt các quá trình sinh địa hóa phức tạp. Sự gia tăng dân số thế giới nhanh chóng, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm số lượng chất thải tăng lên không ngừng dẫn đến chức năng ngày nhiều nơi trở nên quá tải, dẫn đến ô nhiễm môi trường.
Khi lượng chất thải lớn hơn khả năng đệm, hoặc thành phần chất thải có nhiều chất độc, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân hủy thì chất lượng môi trường sẽ giảm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 4 Môi trường lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Môi trường trái đất là nơi cung cấp sự gia chép và lưu trữ lịch sử trái đất, sự tiến hóa của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của con người. Ngoài ra, môi trường còn cung cấp các chỉ thị không gian và mang tính chất tín hiệu báo động sớm các hiểm họa, các hiện tượng tai biến tự nhiên.
Môi trường cung cấp và lưu giữ cho con người các nguồn gen, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo. Môi trường bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài. Các thành phân trong môi trường còn có vai trò trong việc bảo vệ cho đời sống của con người và sinh vật tránh khỏi những tác động từ bên ngoài như: tầng Ozon trong khí quyển có nhiệm vụ hấp thụ và phản xạ trở lại các tia cực tím từ năng lượng mặt trời (Nguyễn Ðình Sinh, 2009). * Khái niệm về quản lí môi trường “Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách Kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia” (Nguyễn Thế Chinh, 2015).
Với nội dung trên, quản lý môi trường cần phải hướng tới những mục tiêu cơ bản sau đây: Thứ nhất là phải khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người. Thứ hai là phát triển bền vững Kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất và được tuyên bố Johanesburg, Nam phi về phát triển bền vững 26/8-4/9/2002 tái khẳng định. Trong đó với nội dung cơ bản cần phải đạt được là phát triển Kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, đảm bảo sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học. Thứ ba là xây dựng các công cụ có hiện lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ.
Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Cơ sở triết học của quản lý môi trường Trong triết học người ta bàn nhiều về nguyên lý thống nhất của thế giới vật chất, trong đó sự gắn bó chặt chẽ giữa tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống thống nhất, yếu tố con người giữ vai trò quan trọng. Sự thống nhất của hệ thống được thực hiện trong các chu trình Sinh Địa Hoá của 5 thành phần cơ bản: - Sinh vật sản xuất (tảo và cây xanh) có chức năng tổng hợp chất hữu cơ từ các chất vô cơ dưới tác động của quá trình quang hợp.
- Sinh vật tiêu thụ là toàn bộ động vật sử dụng chất hữu cơ có sẵn, tạo ra các chất thải. - Sinh vật phân huỷ (vi khuẩn, nấm) có chức năng phân huỷ các chất thải, chuyển chúng thành các chất vô cơ đơn giản. - Con người và xã hội loài người. - Các chất vô cơ và hữu cơ cần thiết cho sự sống của sinh vật và con người với số lượng ngày một tăng (Nguyễn Thế Chinh, 2015).
Cơ sở khoa học kỹ thuật, công nghệ của quản lý môi trường * Cơ sở khoa học Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. Các nguyên tắc quản lý môi trường, các công cụ thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử lý môi trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hình thành và phát triển ngành khoa học môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015). Nhờ sự tập trung quan tâm cao độ của các nhà khoa học thế giới, trong thời gian từ năm 1960 đến nay nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trường đã được tổng kết và biên soạn thành các giáo trình, chuyên khảo. Trong đó, có nhiều tài liệu cơ sở, phương pháp luận nghiên cứu môi trường, các nguyên lý và quy luật môi trường.
Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt động sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh, ngăn ngừa. Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều nước phát triển trên thế giới. Tóm lại, quản lý môi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 trường là cầu nối giữa khoa học môi trường với hệ thống tự nhiên - con người - xã hội đã được phát triển trên nền phát triển của các bộ môn chuyên ngành. * Cơ sở kỹ thuật - công nghệ Sự phát triển của công nghệ môi trường trong lĩnh vực xử lý chất thải (rắn, lỏng, khí, nước) đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
- Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ kỹ thuật, máy móc xử lý, đo đạc, đánh giá các thông số môi trường hiện nay. Nhưng do nhiều nguyên nhân, giá thành của kỹ thuật, và thiết bị thường thay đổi. trong khi đó, hoạt động sản xuất thường phát triển theo các su thế thị trường dẫn đến chỗ chỉ các loại công nghê lạc hậu và thiết bị mang lại hiệu quả kinh tế thuần túy mới được sử dụng. Vì vậy cần có hoạt động quản lý môi trường để điều tiết khả năng ứng dụng công nghệ và thiết bị có lợi cho môi trường sống của toàn nhân loại hiện tại cũng như tương lai.
- Sự phát triển các ứng dụng thông tin dự báo môi trường: GIS, mô hình hóa, quy hoạch môi trường, EIA, kiểm toán môi trường. Các ứng dụng trên không nằm trong một hệ thống các ngành khoa học và công nghệ đã có, liên quan tới nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội khác. Các giải pháp tối ưu có được từ các nghiên cứu trên, chỉ có thể triển khai ra thực tế thông qua các biện pháp quản lý tổng hợp môi trường của địa phương, ngành, quốc gia, khu vực và quốc tế. Tất cả những nhận xét trên đây cho phép kết luận rằng: ngày nay có đủ điều kiện để xem quản lý môi trường là một chuyên ngành khoa học môi trường có chức năng quản lý tổng hợp các hoạt động phát triển của con người, đảm bảo duy trì và bảo vệ chất lượng môi trường sống của con người cùng các sinh vật trên Trái đất, hiện tại cũng như tương lai.
Cơ sở luật pháp cho quản lý môi trường Cơ sở pháp lý cho quản lý môi trường thực chất là các văn bản luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực môi trường. Luật quốc tế về môi trường Luật quốc tế về môi trường được hiểu là tổng hợp các nguyên tắc và các quy phạm pháp lý quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hợp tác và phát triển bền vững vì lợi ích của cộng đồng quốc tế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 Các văn bản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Phi. Từ hội nghị quốc tế về “Môi trường con người” tổ chức năm 1972 tại Thụy Điển và sau Hội nghị Thượng Đỉnh Rio 92 có rất nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết.
Cho đến nay đã có hàng nghìn các văn bản luật pháp quốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn bản đã được chính phủ Việt Nam tham gia ký kết như: - Công ước Chicago về hàng không dân dụng quốc tế, 1944. - Thoả thuận về thiết lập Uỷ ban nghề cá Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, 1948. - Hiệp ước về Khoảng không ngoài vũ trụ, 1967.