CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Một số lý luận về đất nông nghiệp 1. Đất nông nghiệp và vai trò của đất nông nghiệp 1. Khái niệm về đất đai Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định nghĩa về đất.
Docuchaiep cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian”. Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập đến khả năng sử dụng và sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh. Do đó, sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên. Ngoài ra, còn có một số học giả khác như V.
Viliam đã đưa ra khái niệm “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây trồng”. Các nhà khoa học đất Việt Nam cho rằng “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và đất được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay bên trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước (hồ, sông suối…), các dạng trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả nghiên cứu trong quá khứ và hiện tại để lại” [6]. Từ đó có thể nhận thức: đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: khí hậu, lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất. Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các 2 thành phần khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người.
Vai trò của đất đai đối với nhân loại Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Các Mác đã nhấn mạnh: “Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh ra mọi của cải vật chất”. Luật đất đai cũng đã khẳng định “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở y tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng”. Đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất.
Đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi để con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm. Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm [3]. Đất đai có vị trí cố định trong không gian và có chất lượng không đồng nhất giữa các vùng, miền. Mỗi vùng đất đai luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu, nước, thảm thực vật), điều kiện kinh tế - xã hội như (dân số, lao động, giao thông, thị trường).
Do vậy, muốn sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả cần bố trí sử dụng đất hợp lý trên cơ sở khai thác lợi thế sẵn có của vùng.3 Khái niệm về đất nông nghiệp Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như: Đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa, đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác); đất trồng cây lâu năm; đất rừng 3 sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ [6]. Luật Đất đai năm 2013 đã chia đất đai thành 03 loại với tiêu chí phân loại duy nhất đó là căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu. Trên cơ sở đó, đất đai được chia theo ba phân nhóm: + Nhóm đất nông nghiệp; + Nhóm đất phi nông nghiệp; + Nhóm đất chưa sử dụng. Theo quy định tại Điều 10, khoản 1 của Luật Đất đai 2013, nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác b) Đất trồng cây lâu năm c) Đất rừng sản xuất d) Đất rừng phòng hộ đ) Đất rừng đặc dụng e) Đất nuôi trồng thủy sản g) Đất làm muối h) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh.
Vai trò đất nông nghiệp Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay 4 thế được. Ruộng đất vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu sản xuất nông nghiệp. Vai trò đầu tiên và lớn nhất của đất nông nghiệp trong nền kinh tế là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, đảm bảo an ninh lương thực là mục tiêu của mỗi quốc gia, góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế [24].
Về mặt kinh tế - Để sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa đối với bất kỳ nông sản nào trước hết phải có diện tích đất nông nghiệp đủ lớn, kết hợp với các yếu tố khác như lao động, công cụ lao động, khoa học kỹ thuật, chất lượng giống… thì mới có điều kiện tạo ra khối lượng nông phẩm hàng hóa lớn đáp ứng nhu cầu thị trường. Ngoài những điều kiện như đã nêu trên, sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp còn có thể khai thác các yếu tố lợi thế về đặc thù riêng vốn có của các địa phương. - Sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp đóng góp vốn trực tiếp cho đầu tư trong giai đoạn đầu thực hiện công nghiệp hóa: Nước ta đã đạt được những thành tích lớn về phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời gian qua, từ khi thực hiện khoán 10. Từ tình trạng thiếu lương thực trong những năm 1978 - 1985, với chính sách giao đất, giao rừng ổn định lâu dài đã tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tăng vượt bậc về năng xuất và sản lượng.
Năm 1990, năng xuất lúa đạt 31,9 tạ/ha, sản lượng đạt 21,5 triệu tấn lương thực, nhưng đến năm 2000 năng xuất lúa đạt 42,5 tạ/ha, sản lượng đạt 35,6 triệu tấn lương thực. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 17,5 triệu đồng trên 1ha, tăng 53% so với năm 1990 [2]. Với sản lượng như vậy, không những an ninh lương thực quốc gia đảm bảo, mà còn đưa nước ta vào nhóm các nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. - Trong điều kiện thị trường bất động sản được hình thành thì đất nông nghiệp có vai trò là phương tiện góp vốn, huy động vốn, liên doanh liên kết hoặc cho thuê để phát triển sản xuất giúp các hộ nông dân khai thác và sử 5 dụng quỹ đất sản xuất một cách linh hoạt nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho nông dân.
Về mặt xã hội a. Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất đặc biệt duy nhất, là nơi sản xuất ra lương thực thực thực phẩm nuôi sống con người và xã hội: Đảm bảo an ninh lương thực, đây là một vấn đề bức xúc đặt ra trong quá trình phát triển bền vững của đất nước: Việc nâng cao chất lượng đất nông nghiệp, nâng cao trình độ sản xuất nông nghiệp là nhu cầu đương nhiên cần đặt ra để đảm bảo nhu cầu lương thực cho từng quốc gia. Thiếu lương thực sẽ dẫn đến việc bị phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, nhiều trường hợp đã dẫn tới thiếu chủ động, gây mất an ninh xã hội và từ đó tạo nguy cơ mất an ninh chính trị quốc gia.Đất nông nghiệp là môi trường sống, môi trường không gian để sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp có đặc thù là sản xuất ở ngoài trời, phải tiếp xúc với tự nhiên, cây trồng sống trên đất, quang hợp nhờ ánh sáng mặt trời, hút nước từ trong đất, cá phải sống dưới nước sông, hồ, biển, gia xúc, gia cầm phải có chuồng trại, có bãi chăn thả; con vật nuôi phải có thức ăn mà thức ăn lại chính là các động thực vật được sản xuất từ trong nông nghiệp. Muốn sản xuất phát triển thì chung ta phải biết giữ gìn, bảo vệ môi trường, không vi phạm các quy luật tự nhiên, không chỉ biết khai thác đất đai mà còn phải biết cải tạo đất đai, tạo lập môi trường sống tốt nhất cho cây trồng vật nuôi.
Quá trình quản lý đất đai Việt Nam Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Công tác quản lý đất đai đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng góp phần đẩy mạnh sự nghiệp phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, từng bước “nắm chắc, quản chặt, khai thác có hiệu quả” nguồn tài nguyên đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp. Cụ thể công tác quản lý đất đai gồm có các nội dung cơ bản sau: 6 + Việc xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đất đai phù hợp yêu cầu nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra nguồn nội lực to lớn thúc đẩy sản xuất phát triển, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài.