CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 1. Shleifer & Vishny (1997) định nghĩa hiệu quả hoạt động công ty đảm bảo tỷ suất hoàn vốn đầu tư tối đa cho các cổ đông và chủ nợ của công ty. Theo Charreaux (1997) nghĩa hiệu quả hoạt động công ty được định nghĩa rộng hơn là các kiểm soát có tổ chức nhằm chi phối cách ứng xử của các nhà quản lý và xác định quyền lực cần thiết của họ để đạt được hiệu quả trong công việc từ đó tối ưu hóa hiệu quả hoạt động cho công ty.
Đối với Parkinson (1994), hiệu quả hoạt động trong công ty đạt tối ưu khi việc điều hành, quá trình giám sát và kiểm soát và được thực hiện nghiêm túc nhằm đảm bảo các hoạt động quản trị và hoạt động tài chính cuả công ty được tối ưu và phù hợp với lợi ích cổ đông. Từ đó, tác giả đề xuất khái niệm về hiệu quả công ty. Để đạt được hiệu quả hoạt động công ty thì các đối tượng bao gồm chủ thể quản lý là cổ đông và khách thể quản lý là Ban giám đốc. Cổ đông hoặc người đại diện của họ (HĐQT) với Ban giám đốc xác lập các điều khoản giao kết dân sự về cơ chế vận hành, giám sát và kiểm soát của hệ thống.
Đây là một hệ thống mở, có tính tương tác với môi trường bên ngoài như hệ thống văn bản pháp quy về quản trị công ty, tính chất của các loại thị trường tài chính, nguồn nhân lực, hàng hóa dịch vụ…Việc xác lập hệ thống này nhằm giảm thiểu những thua lỗ tiềm tàng do mâu thuẫn về lợi ích giữa cổ đông và các nhà quản lý. Phương pháp đo lường. Hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần là chỉ tiêu rất quan trọng đối với các bên liên quan như cổ đông, ban giám đốc, chủ nợ, nhà cung cấp, người tiêu thụ… trong việc ra quyết định kinh doanh hoặc đầu tư. Hiệu quả hoạt động của công ty được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau trong các nghiên cứu khoa học.
Nghiên cứu của Hult (2008) đánh giá cách thức đo lường hiệu quả hoạt động trong các nghiên cứu khoa học đã công bố về doanh nghiệp kinh doanh quốc tế, bao gồm các cấp độ tập đoàn, công ty và đơn vị kinh doanh chiến lược, cho thấy có ba c 2 tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động được sửdụng là hiệu quảtài chính, hiệu quả kinh doanh hoặc hiệu quả tổng hợp. Hiệu quả tài chính trong nhiều nghiên cứu bao gồm tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, lợi nhuận biên, thu nhập cổ phần thường, thị giá cổ phiếu, tăng trưởng doanh thu và Tobin’s Q. Hiệu quả kinh doanh được đo lường bởi thị phần, tần suất giới thiệu sản phẩm mới và sáng chế, chất lượng hàng hoá, dịch vụ, năng suất lao động, mức độ hài lòng và duy trì lực lượng lao động. Hiệu quả tổng hợp thường bao gồm uy tín, khả năng tồn tại, mức độ đạt được mục tiêu, so sánh với đối thủ cạnh tranh… Kết quả nghiên cứu của Hult (2008)cho thấy hiệu quả tài chính được đo lường phổ biến nhất là chỉ tiêu doanh thu (44%), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản - ROA (40%); hiệu quả kinh doanh được đo lường phổ biến nhất là thị phần (47%); còn hiệu quả tổng hợp được đo lường phổ biến nhất là uy tín (30%).
Tuy nhiên, đa số nghiên cứu (44,8%) tập trung khảo sát số liệu ở cấp độ công ty và sử dụng chỉ tiêu tài chính để đo lường hiệu quả. Hiệu quả tài chính trong các nghiên cứu khoa học thường được đo lường thông qua các tiếp cận sau: tiếp cận thị trường, tiếp cận từ báo cáo tài chính và tiếp cận kết hợp. Tiếp cận thị trường xem hiệu quả tài chính là tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) vào cổ phiếu của công ty đang xem xét. Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ số giữa tổng cổ tức và chênh lệch giá nhận được trong một khoảng thời gian so với vốn đầu tư ban đầu.
Cách tiếp cận này có ưu điểm là dựa trên thu nhập thực tế bằng tiền của nhà đầu tư, nên có tính thuyết phục cao. Tuy nhiên, thị giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng nhiều bởi tâm lý của nhà đầu tư (lạc quan hoặc bi quan về thị trường); đặc biệt trên những thị trường chứng khoán mới phát triển, việc giám sát tuân thủ quy định pháp luật chưa chặt chẽ và thị trường kém hiệu quả về mặt thông tin, nên giá chứng khoán dễ bị thao túng bởi hoạt động đầu cơ bất hợp pháp, do đó ROI chưa phải là chỉ tiêu tốt để đo lường hiệu quả hoạt động của công ty. Mặc khác, khi công ty thực hiện các nghiệp vụ tách, gộp cổ phiếu, phát hành quyền mua cổ phẩn, cổ phiếu thưởng, trả cổ tức bằng cổ phiếu… sẽ làm thị giá cổ phiếu điều chỉnh tương ứng và làm công thức tính toán ROI trở nên rất phức tạp. c 3 Cách tiếp cận thứ hai là dựa vào thông tin do công ty cung cấp, mà chủ yếu từ báo cáo tài chính.
Theo cách tiếp cận này, những chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính chủ yếu là các tỷ suất lợi nhuận như tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Hai chỉ tiêu này có quan hệ với nhau vì ROE khuyếch đại ROA thông qua đòn bẩy tài chính. Tuy nhiên, để đo lường hiệu quả hoạt động trong nghiên cứu thì chỉ tiêu ROA toàn diện hơn do tính đến khả năng khai thác toàn bộ tài sản của công ty. Ưu điểm của cách tiếp cận này là dễ tính toán chỉ tiêu, nhưng nhược điểm lại nằm ở tính sẵn có và tính chính xác, trung thực của thông tin từ báo cáo tài chính.
Cách tiếp cận thứ ba kết hợp cả hai khía cạnh thị trường và công ty, các nhà nghiên cứu thường sử dụng chỉ tiêu Tobin’s Q hoặc tỷ số thị giá/giá sổ sách (PBV). Tobin’s Q được tính bằng tỷ số giữa giá thị trường của tài sản với giá trị thay thế của tài sản. (2004) đã đề xuất cách tính Tobin’s Q: giá thị trường của tài sản được tính bằng cách cộng giá sổ sách của tài sản với giá thị trường của cổ phiếu đang lưu hành, sau đó trừ đi giá sổ sách của cổ phiếu lưu hành, còn giá trị thay thế của tài sản được tính bằng giá sổ sách của tài sản. Chỉ tiêu PBV tương tự như Tobin’s Q, nhưng không tính trên tổng tài sản, mà chỉ so sánh giá thị trường và giá sổ sách của vốn chủ sở hữu, do đó PBV chưa được toàn diện bằng Tobin’s Q.
Chỉ tiêu Tobin’s Q phụ thuộc vào các giá trị vô hình của công ty, niềm tin của thị trường đối với tương lai của công ty và phương pháp hạch toán giá trị sổ sách của tài sản. Ưu điểm của chỉ tiêu này là dễ tính toán, giúp nhận dạng và ước lượng giá trị vô hình không được ghi nhận trong báo cáo tài tài chính nhưng nhược điểm nằm ở tâm lý nhà đầu tư và khả năng tuân thủ chuẩn mực kế toán. Như vậy hiệu quả hoạt động của công ty được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng khảo sát và nguồn dữ liệu. Mỗi cách tính đều có ưu nhược điểm của nó.
Một số yếu tố chính tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp. c 4 Cấu trúc sở hữu được hiểu là cấu trúc góp vốn trong công ty. Trong các công ty đại chúng, cổ đông nhỏ thường phải trông cậy vào tinh thần trách nhiệm và sự minh bạch của những người trực tiếp điều hành để kiểm tra, giám sát hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp.
Vì thế, trong công bố thông tin cần có sự kiểm tra, giám sát tính minh bạch, nhằm giúp cổ đông có thể xác định mức độ sở hữu và kiểm soát của những người kiểm soát thật sự trong công ty đại chúng. Trong nhiều thông tin quan trọng về hoạt động doanh nghiệp, “Ai thật sự là người kiểm soát công ty” là thông tin vô cùng quan trọng cho cổ đông bởi người này là đại diện cho tinh thần trung thực và minh bạch của một công ty đại chúng, cũng như có thể cho thấy liệu công ty có bị thao túng hay không. Tuy nhiên, nếu cấu trúc sở hữu và liên kết sở hữu của các công ty không được công bố đầy đủ thì không dễ nhận biết được người kiểm soát thật sự hay người kiểm soát sau cùng của một công ty đại chúng. Cấu trúc sở hữu phân tán và sở hữu tập trung.
Nếu phân theo quyền kiểm soát, cấu trúc sở hữu được phân thành hai loại sở hữu: sở hữu phân tán, sở hữu tập trung. Sở hữu tập trung: Là hình thức sở hữu mà cả quyền kiểm soát lẫn quyền sở hữu tập trung vào tay một số cá nhân, gia đình, ban quản lý, hoặc các định chế cho vay (người bên trong). Những cá nhân và nhóm này thường kiểm soát và chi phối lớn đến cách thức vận hành của công ty. Do đó, cấu trúc tập trung thường được xem là hệ thống nội bộ.
Những cổ đông lớn kiểm soát doanh nghiệp trực tiếp bằng cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều hành. Họ có thể không sở hữu vốn toàn bộ nhưng vẫn có thể được kiểm soát doanh nghiệp vì có quyền biểu quyết đáng kể. Sở hữu phân tán: Trong cấu trúc sở hữu phân tán có nhiều cổ đông, mỗi cổ đông sở hữu một số cổ phần doanh nghiệp, Ban giám đốc nắm giữ quyền kiểm soát hoạt động công ty. Các cổ đông nhỏ ít có động lực để kiểm tra chặt chẽ hoạt động và không muốn tham gia điều hành công ty.
Bởi vậy họ được gọi là người bên ngoài và cấu trúc phân tán được gọi là hệ thống bên ngoài. c 5 Cấu trúc sở hữu của 100 doanh nghiệp có giá trị vốn hóa lớn nhất trên 2 sàn chứng khoán Hà Nội và TP.HCM năm 2010 cho thấy, tỉ lệ nắm giữ cổ phần bình quân của 10 cổ đông lớn nhất trong các công ty là 70% và của cổ đông lơn nhất là 61%.