CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU 1.1 Cơ sở lý thuyết về thương hiệu 1.1 Khái niệm về thương hiệu Thương hiệu là một cái tên, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng, hoặc thiết kế, hoặc sự kết hợp của các yếu tố nhằm mục đích xác định hàng hoá, dịch vụ của một người bán từ trong một nhóm người bán và để phân biệt với các đối thủ cạnh tranh. Do đó, một thương hiệu xác định người bán hoặc nhà sản xuất. Theo luật nhãn hiệu thì người bán được cấp độc quyền sử dụng nhãn hiệu vĩnh viễn. Điều này khác với các tài sản khác như bằng sáng chế và bản quyền có ngày hết hạn.
Nếu một tổ chức hoặc công ty xem thương hiệu chỉ là một cái tên, thì họ đã bỏ qua quan điểm về xây dựng thương hiệu. Thách thức trong xây dựng thương hiệu là để phát triển cho thương hiệu có ý nghĩa sâu sắc. Có lẽ những kỹ năng đặc biệt nhất của các nhà tiếp thị chuyên nghiệp là khả năng của họ để tạo ra, duy trì, bảo vệ và phát triển thương hiệu (Kotler, 1994). Theo hiệp hội Tiếp thị Hoa Kỳ (American Markerting Association) thì thương hiệu là một cái tên, thuật ngữ, ký hiệu, biểu tượng hoặc tập hợp các nhân tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một người bán này với người bán khác (<https://www.org/resources/Pages/Dictionary.aspx?dLetter=B&dLetter=B> [Ngày truy cập: ngày 05 tháng 07 năm 2014]) Còn theo tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property Organization) thì mặc dù thỉnh thoảng thương hiệu được hiểu như nhãn hiệu, nhưng trong giới thương mại, thuật ngữ "thương hiệu" thường được sử dụng trong ngữ cảnh rộng hơn, có đề cập đến sự kết hợp của các yếu tố hữu hình và vô hình.
Các yếu tố hữu hình và vô hình thường được đề cập như là nhãn hiệu, thiết kế, logo, bao bì thương mại, và các khái niệm, hình ảnh, danh tiếng mà những yếu tố này tác động đến sản phẩm, dịch vụ cụ thể. Một số chuyên gia xem xét hàng hóa hoặc dịch vụ của mình như là một thành phần của thương hiệu. Định nghĩa này rộng hơn và linh hoạt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 hơn <http://www.int/sme/en/documents/branding_fulltext. Tại Việt Nam, thương hiệu và nhãn hiệu vẫn chưa được phân biệt rõ ràng.
Các văn bản pháp luật Việt Nam chỉ bảo hộ nhãn hiệu, còn thương hiệu thì không được đề cập, cụ thể, tại điều 4 – Khoản 16 – Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ số 36/2009/QH12 định nghĩa: “Nhãn hiệu là một dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Trong khi một số cổng thông tin điện tử của một số tỉnh lại đề cập vấn đề bảo hộ thương hiệu.2 So sánh thương hiệu và nhãn hiệu hàng hóa Như đề cập ở mục trước, ở Việt Nam, nhãn hiệu thường được hiểu là thương hiệu, và tương tự, thương hiệu cũng thường được hiểu là nhãn hiệu. Tuy nhiên, theo Moore (2003) thì thương hiệu và nhãn hiệu có một số đặc điểm khác nhau như trong bảng 1.1: Phân biệt nhãn hiệu và thương hiệu Tiêu chí Nhãn hiệu Thương hiệu Giá trị o Có giá trị cụ thể thông qua các o Là một khái niệm trừu tượng, thuộc tính của nhãn hiệu như: khó xác định giá trị, có nhiều màu sắc, cách trang trí, ý thành phần. nghĩa… o Là tài sản hữu hình của một o Là tài sản vô hình của một doanh doanh nghiệp.
o Là phần xác định của một o Là phần quan trọng nhưng khó doanh nghiệp. xác định của một doanh nghiệp. Về mặt o Nhãn hiệu là tên và biểu tượng o Không thể hiện trên các văn bản pháp lý hiện diện trên văn bản pháp pháp lý nhưng rất có giá trị của lý, xây dựng trên hệ thống doanh nghiệp đối với người tiêu pháp luật quốc gia được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Tiêu chí Nhãn hiệu Thương hiệu doanh nghiệp đăng ký và các dùng. Nó do cảm nhận của khách cơ quan chức năng bảo hộ.
hàng là chính. o Do doanh nghiệp xây dựng o Được xây dựng trên hoạt động dựa trên hệ thống pháp luật tiếp thị, quảng cáo… quốc gia. Về mặt o Phải đăng ký để các cơ quan o Do bộ phận chức năng của doanh quản lý chức năng bảo vệ quyền lợi nghiệp quản lý khi có tranh chấp xãy ra.3 Khái niệm về giá trị thương hiệu và lợi ích của giá trị thương hiệu mạnh 1.1 Khái niệm về giá trị thương hiệu Giá trị thương hiệu là một vấn đề quan trọng trong tiếp thị. Mặc dù được mọi người rất chú ý, nhưng chưa có sự đồng thuận về biện pháp tốt nhất để thống nhất cấu trúc phức tạp và đa dạng của nó (Maio Mackay, 2001; Raggio và Leone, 2007).
Một phần lý do là các quan điểm khác nhau được áp dụng để xác định và đo lường khái niệm này (Christodoulides và de Chernatony, 2010). Các quan điểm theo trường phái tài chính nhấn mạnh giá trị thương hiệu của một công ty theo khía cạnh tài chính (Simon và Sullivan, 1993). Mặt khác, các quan điểm theo trường phái người tiêu dùng tập trung vào các khái niệm và đo lường giá trị thương hiệu với người tiêu dùng cá nhân (Leone và cộng sự, 2006). Áp dụng quan điểm thứ hai, và từ một cách tiếp cận tâm lý học nhận thức, giá trị thương hiệu thể hiện giá trị gia tăng ưu đãi của các thương hiệu cho sản phẩm của họ.
Aaker (1991) cung cấp một trong những định nghĩa được chấp nhận nhất và toàn diện về giá trị thương hiệu là: "một tập hợp các tài sản thương hiệu và trách nhiệm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 liên quan đến một thương hiệu, tên và biểu tượng của nó mà cộng thêm hoặc trừ đi từ giá trị được cung cấp bởi một sản phẩm hoặc dịch vụ cho một công ty hoặc cho khách hàng của công ty đó ". Keller (1993) đưa ra một định nghĩa tương tự: "hiệu ứng khác biệt của kiến thức thương hiệu dựa trên phản ứng của người tiêu dùng đối với việc tiếp thị của thương hiệu". Phần tiếp theo bên dưới tác giả sẽ trình bày các thành phần giá trị thương hiệu theo quan điểm khách hàng.2 Lợi ích của giá trị thương hiệu Đối với khách hàng Aaker (1992) cho rằng giá trị thương hiệu cung cấp giá trị cho khách hàng theo ít nhất là ba cách: Một là, tài sản giá trị thương hiệu có thể giúp một khách hàng hiểu rõ, xử lý, lưu trữ và truy cập một số lượng lớn thông tin về sản phẩm và thương hiệu. Hai là, tài sản giá trị thương hiệu có thể ảnh hưởng đến sự tự tin của khách hàng trong việc ra quyết định mua hàng.
Một khách hàng luôn luôn cảm thấy thoải mái hơn với một thương hiệu được sử dụng sau cùng mà họ thấy rằng chất lượng hơn hoặc gần gũi với họ hơn. Ba là, giá trị tài sản thương hiệu, đặc biệt là giá trị cảm nhận và liên tưởng thương hiệu cung cấp giá trị cho khách hàng bằng cách làm gia tăng sự thỏa mãn của khách hàng khi sử dụng sản phẩm. Đối với công ty Cũng theo Aaker (1992) thì giá trị thương hiệu cung cấp giá trị cho công ty theo sáu cách: Một là, giá trị thương hiệu có thể năng cao hiệu suất và hiệu quả của các chương trình tiếp thị. Ví dụ, khi công ty đưa ra một thử nghiệm về một hương vị mới hoặc chức năng mới cho một sản phầm thì những thương hiệu gần gũi hơn sẽ hiệu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 quả hơn bởi vì khách hàng sẽ không hoài nghi về chất lượng của thương hiệu.
Một chương trình quảng cáo thông báo một chức năng mới hoặc mẫu mới sẽ dễ nhớ hơn và kích thích hành động của các khách hàng tiềm năng nếu họ có một chất lượng cảm nhận cao về thương hiệu. Hai là, nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, và liên tưởng thương hiệu có thể tăng cường lòng trung thành của khách hàng bằng cách làm cho khách hàng thỏa mãn nhiều hơn và cung cấp cho khách hàng một lý do để mua hàng. Thậm chí, những tài sản này không có tác động rõ ràng để lựa chọn thương hiệu thì nó cũng làm giảm đi động lực để khách hàng lựa chọn thương hiệu khác. Nâng cao sự trung thành với thương hiệu là đặc biệt quan trọng trong việc kéo dài thời gian để đối phó với sự sáng tạo của đối thủ cạnh tranh.
Ba là, giá trị thương hiệu luôn luôn làm cho lợi nhuận của sản phẩm cao hơn bằng cách cho phép tăng giá bán và giảm sự phụ thuộc vào các chương trình khuyến mãi bán hàng. Trong nhiều trường hợp, các nhân tố của giá trị thương hiệu hỗ trợ cho giá phụ trội hoặc để chống giảm giá. Ngoài ra, thương hiệu với giá trị thấp sẽ khó khăn trong việc giữ giá so với đối thủ cạnh tranh hoặc làm tăng chi phí quảng cáo. Bốn là, giá trị thương hiệu có thể cung cấp một nền tảng cho việc tăng trưởng và mở rộng thương hiệu.
Năm là, giá trị thương hiệu cung cấp đòn bẩy cho các kênh phân phối sản phẩm. Bởi vì khách hàng ít hoài nghi về các thương hiệu đã được công chúng công nhận và có sự liên tưởng tốt. Hơn nữa, với một thương hiệu mạnh, công ty có tiềm năng đạt được hiệu quả và sức mạnh tổng hợp bằng các tác động trực quan cho sản phẩm khuyến mãi hoặc tại cửa hàng. Cuối cùng, các tài sản giá trị thương hiệu cung cấp cho công ty một lợi thế đáng kể, nó như là một rào cản để khách hàng không lựa chọn sản phẩm của đối thủ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Các thành phần giá trị thương hiệu theo mô hình Aaker (1992) 1.1 Sự trung thành với thương hiệu Sự trung thành của khách hàng thể hiện ở thái độ thích thú của khách hàng đối với một thương hiệu mà kết quả là khách hàng mua hàng ổn định của một thương hiệu trong một thời gian dài. Nó là kết quả của một quá trình mà khách hàng cảm nhận được đối với một thương hiệu làm thỏa mãn những gì họ cần. Lòng trung thành được đo lường theo ba cách khác nhau: (1) Đo lường thông qua hành vi “mua hàng lặp đi lặp lại” và bỏ qua các nhân tố tìm ẩn khác (Nodam, 2004), (2) đo lường thông qua thái độ như: ý định mua, giới thiệu với người khác về sự thuận lợi của sản phẩm hoặc đề nghị người khác mua hàng (Oliver, 1999), (3) đo lường kết hợp cả hành vi và thái độ (Jocoby & Chesnut, 1978). Theo Chaudhuri (2009) thì lòng trung thành với thương hiệu được định nghĩa như là sự cam kết của khách hàng sẽ mua lại sản phẩm, dịch vụ ưa thích.