Chương I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN VÀ KHOẢNG CÁCH MONG ĐỢI CỦA XÃ HỘI VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC 1.1 Tổng quan về chất lượng hoạt động kiểm toán trong kiểm toán BCTC 1.1 Định nghĩa chất lượng, chất lượng hoạt động kiểm toán 1.1 Định nghĩa về chất lượng Đã từ lâu chất lượng trở thành một khái niệm quen thuộc với con người, nhưng cũng có không ít những tranh cãi phát sinh xoay quanh khái niệm này. Nguyên nhân là do dưới nhiều góc độ khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, các khái niệm về chất lượng sẽ khác nhau. - Theo quan điểm Triết học, chất lượng được hiểu là sự đạt đến mức độ hoàn hảo, tuyệt đối. Chất lượng là cái gì đó làm cho mọi người khi nghe thấy đều nghĩ đến sự hoàn mỹ nhất, cao nhất, không khuyết tật, là mức độ tuyệt vời.
Đây là một khái niệm mang tính trừu tượng, chưa cho phép chúng ta có thể định lượng, đo lường và không thể ứng dụng trong kinh doanh. Shemart, nhà quản lý người Mỹ khởi xướng cho quan điểm về vấn đề chất lượng và quản lý chất lượng, cho rằng: chất lượng sản phẩm trong sản xuất kinh doanh công nghiệp là một tập hợp những đặc tính của sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng của nó. Định nghĩa này gắn liền với đặc tính sản phẩm, tuy nhiên còn tách rời với nhu cầu của người tiêu dùng, không tính đến sự thích nghi khác nhau về sở thích của từng người. - Một quan điểm khác cũng đứng về góc độ nhà sản xuất, theo đó, chất lượng sản phẩm là sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, yêu cầu kinh tế kỹ thuật đã được thiết kế từ trước.
Theo quan điểm này, các nhà sản xuất cần đề ra các tiêu chuẩn và sản xuất theo đúng các tiêu chuẩn đó sẽ tạo ra sản phẩm có chất lượng. Quan điểm này chỉ chú ý đến các tiêu chuẩn mà không chú ý đến những tác động, sự thay đổi của môi trường xung quanh và không quan tâm đến đối tượng sử dụng, đến yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 - Bên cạnh các quan điểm chỉ tập trung vào quy trình sản xuất, vào thế kỷ 20, ở các quốc gia phát triển đã xuất hiện một số quan niệm về chất lượng đứng trên góc độ người sử dụng. Từ góc nhìn này, có những quan điểm khác nhau như là: Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng (European Organization for Quality Control ) Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu (Philip B.Crosby) Chất lượng là phù hợp với mục đích sử dụng (J.Juran) Chất lượng là tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu của người sử dụng (Tổ chức quốc tế và Tiêu chuẩn hóa ISO, trong tiêu chuẩn ISO 9000-2005 (TCVN 9000- 2007), trong đó, yêu cầu là những nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc.
Như vậy, đứng từ nhiều góc nhìn, nhiều phương diện, sẽ có nhiều định nghĩa khác nhau, tuy nhiên, các định nghĩa này đều có một điểm chung, và ta hiểu đó là một tập hợp các đặc tính cần có để đáp ứng các nhu cầu của người sử dụng. Những yêu cầu đó có thể là yêu cầu về kỹ thuật, về công nghệ, là các nhu cầu từ phía người tiêu dùng, hay những yêu cầu mang tính pháp lý khác, nhưng những quan điểm, khái niệm trên không những không đối lập mà còn mang ý nghĩa bổ sung cho nhau. Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, chất lượng luôn là sự thách thức, là mối quan tâm hàng đầu trong mọi lĩnh vực đối với bất kỳ tổ chức nào. Các sản phẩm, dịch vụ được cung cấp đòi hỏi phải đáp ứng, thỏa mãn được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ đóng góp vào lợi ích chung của xã hội càng phải nỗ lực hơn trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng hoạt động của mình.2 Định nghĩa chất lượng hoạt động kiểm toán Xuất phát từ nhu cầu giải quyết xung đột lợi ích tồn tại giữa người sử dụng BCTC được công bố và các nhà quản lý doanh nghiệp liên quan đến tính trung thực và độ tin cậy của thông tin trên BCTC, xã hội đòi hỏi cần có một bên thứ ba độc lập cho ý kiến về thông tin TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Kiểm toán độc lập, với chức năng chính là xác minh và trình bày ý kiến của KTV thông qua báo cáo kiểm toán, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp đảm bảo rằng Ban giám đốc các doanh nghiệp đã cung cấp thông tin hợp lý được trình bày trên BCTC, và người sử dụng BCTC có thể tự tin tiếp nhận và sử dụng thông tin này. Chất lượng và sự hữu dụng của cuộc kiểm toán là mục tiêu được đặt lên hàng đầu trong việc đáp ứng nhu cầu xác nhận tính trung thực và hợp lý của BCTC được kiểm toán nhằm thu hẹp khoảng cách giữa người sử dụng thông tin BCTC và các nhà quản lý của doanh nghiệp. Dang (2004) lập luận rằng các báo cáo tài chính đã được kiểm toán là một cơ chế giám sát để đảm bảo thông tin tài chính đến người sử dụng.
Định nghĩa chất lượng hoạt động kiểm toán phức tạp hơn định nghĩa về chất lượng sản phẩm thông thường bởi lẽ sản phẩm kiểm toán là một loại sản phẩm khá đặc biệt. Chính vì vậy, khá nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng để đưa ra định nghĩa về chất lượng của hoạt động này. Palmrose (1988) định nghĩa chất lượng kiểm toán về phương diện mức độ đảm bảo, bởi vì mục đích của kiểm toán là để cung cấp sự đảm bảo về báo cáo tài chính, nên chất lượng kiểm toán là xác suất mà báo cáo tài chính không chứa đựng những sai sót trọng yếu. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) số 220 – Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán: “Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy và ý kiến của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý”.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Các định nghĩa này có thể được xem xét ở hai góc nhìn cụ thể: - Từ góc nhìn của công ty kiểm toán: chất lượng kiểm toán là sự tuân thủ chuẩn mực kiểm toán, tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, hướng đến thỏa mãn, đáp ứng những mong muốn, nhu cầu khách hàng bằng việc cung cấp ý kiến kiểm toán mang tính khách quan và đáng tin cậy. Cụ thể, KTV cần cung cấp một sự đảm bảo về tính trung thực và hợp lý của thông tin trên BCTC được kiểm toán đến cho người sử dụng trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực kiểm toán và nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, đảm bảo tính độc lập và sự hoài nghi nghề nghiệp cần thiết trong việc phát hiện gian lận, sai sót khi tiến hành công việc kiểm toán. Bên cạnh những ý kiến đảm bảo về thông tin tài chính, KTV còn thực hiện cả chức năng tư vấn, giúp khách hàng nâng cao hiệu quả kinh doanh trên cơ sở một mức phí hợp lý, đảm bảo mối quan hệ lợi ích – chi phí cho cả phía khách hàng lẫn công ty kiểm toán. Hơn nữa, chất lượng kiểm toán còn thể hiện ở việc các dịch vụ kiểm toán luôn được thực hiện bởi một đội ngũ KTV độc lập, có năng lực chuyên môn, và sự hiểu biết cần thiết về đơn vị được kiểm toán.
- Từ góc nhìn của đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán: Việc sử dụng thông tin không đáng tin cậy trên báo cáo tài chính để ra quyết định sẽ khiến các nhà đầu tư phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng về tài chính. Chính vì vậy, những đối tượng sử dụng thông tin BCTC luôn mong muốn có được thông tin trung thực và đáng tin cậy khi sử dụng. Trong điều kiện này, trách nhiệm kiểm toán viên là tăng cường độ tin cậy thông tin trên báo cáo tài chính, giúp người sử dụng đưa ra quyết định thích hợp. Người sử dụng thông tin BCTC thường mong đợi rằng KTV sẽ phát hiện và thông báo tất cả các gian lận, sai sót của công ty và đưa ra kết quả cảnh báo về tình hình kinh doanh của công ty trong thời gian sắp tới.
Chất lượng kiểm toán còn được thể hiện ở những ý kiến tư vấn của KTV cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty và mức phí hợp lý. Như vậy, có thể thấy cả hai nhóm công ty kiểm toán và những người sử dụng dịch vụ kiểm toán đều có cùng một mục tiêu chung đối với hoạt động kiểm toán. Đó là một hoạt động TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 đánh giá độc lập nhằm mang lại một sự đảm bảo về những thông tin được trình bày trên BCTC là trung thực và hợp lý, từ đó giúp các đối tượng sử dụng thông tin này có được những quyết định đúng đắn và phù hợp. Cuộc kiểm toán có chất lượng còn phải đảm bảo được thực hiện bởi những KTV có năng lực, tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, chuẩn mực kiểm toán, mang lại giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp thông qua các ý kiến tư vấn phù hợp.
Tuy nhiên, các mong đợi về mức độ phát hiện gian lận và sai sót còn có sự khác biệt giữa các đối tượng, do đó tạo nên một khoảng cách giữa mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán và những gì mà nghề nghiệp kiểm toán thực sự mang lại.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC Chất lượng là một phạm trù vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan, vì vậy có khá nhiều định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu đề cập đến vấn đề này. Do chất lượng kiểm toán là khó quan sát và đo lường như các sản phẩm cụ thể, nên các yếu tố thay thế hoặc các chỉ số về chất lượng kiểm toán thường được sử dụng trong nghiên cứu để xác định chất lượng kiểm toán. Dưới đây là phần hệ thống hóa một số nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng chất lượng dịch vụ kiểm toán như sau: 1. Quy mô công ty kiểm toán Quy mô công ty kiểm toán là một trong những yếu tố được sử dụng như là chỉ tiêu tiêu biểu nhất cho chất lượng kiểm toán.