phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, còn có 3 chương lớn sau đây: Chƣơng 1: Quan điểm của Đảng, Nhà nước v đổi mới GDĐH và vai trò của báo in. Chƣơng 2: Thực trạng đổi mới GDĐH trên báo in. Chƣơng 3: Thành công, hạn chế, bài hoc kinh nghiệm và giải pháp kiến nghị Nội dung của luận văn sẽ được trình bày theo các chương nói trên. 9 Chƣơng 1 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƢỚC VỀ ĐỔI MỚI GDĐH VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ 1.1 Cơ sở l luận chung v ổi mới GDĐH GDĐH là đào tạo trình độ CĐ, ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ.
Mục tiêu của GDĐH là đào tạo người học có phẩm chất ch nh trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành ngh nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trong những năm qua, mặc dù còn nhi u khó khăn nhưng GDĐH đã đóng góp t ch cực vào sự tăng trưởng của n n kinh tế, cung cấp hàng triệu lao động có trình độ khác nhau với số lượng ngày càng tăng, chất lượng ngày càng được nâng cao. Theo số liệu thống kê của ộ GD và ĐT t nh đến năm 2014, cả nước có 428 trường ĐH, CĐ với đội ngũ giảng viên hơn 87,1 nghìn người và quy mô đào tạo khoảng 2,1 triệu sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh. GDĐH đã đáp ứng được những yêu cầu thiết yếu trong phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
Nhi u chương trình đào tạo mới đã được mở và đưa vào áp dụng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nguồn nhân lực. Đến nay, số chương trình đào tạo ngành đào tạo đang được áp dụng trong các cơ sở đào tạo ở các trình độ ĐH là 264, CĐ là 126. Mặc dù đã có nhi u kết quả tốt nhưng so với đòi hỏi của quá trình phát triển đất nước, GDĐH còn chưa đáp ứng được yêu cầu khi quy mô đào tạo, số lượng nhân lực chất lượng cao còn t, cơ cấu trình độ và cơ cấu ngành ngh chưa cân đối và phù hợp với nhu cầu nhân lực cao cấp của thị trường lao động trong và ngoài nước. Nhận thức v tầm quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế chưa thực sự sâu sắc và toàn diện.
Chưa đồng bộ v cơ chế, ch nh sách quốc gia và các nguồn lực dành ưu tiên cho đào tạo nhân lực chất lượng cao. Thiếu thông tin, dự báo v nhu cầu nhân lực chất lượng cao, cũng như sự phối hợp đồng bộ giữa các 10 ngành, các cấp và các địa phương trong công tác quan trọng này. Mạng lưới các cơ sở GDĐH tuy đã được quy hoạch nhưng thực hiện còn chậm và chưa đồng bộ. Thiếu sự liên thông, liên kết đào tạo giữa các bậc trình độ của nguồn nhân lực chất lượng cao.
Mô hình đào tạo và các chuẩn mực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở các cấp, bậc học chưa được xác định rõ ràng và hợp lý. Một số chương trình đào tạo chất lượng cao chưa kịp thời cập nhật; phương thức đào tạo chưa đồng bộ Nước ta đang đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại n n kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả cạnh tranh đòi hỏi phải xây dựng được nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời gian tương đối ngắn. Vì vậy, đổi mới GDĐH là yêu cầu cấp thiết để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong đó, đổi mới không có nghĩa là làm lại tất cả, làm lại từ đầu mà là kế thừa, phát triển những quan điểm chỉ đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục.
Trên cơ sở đó, đổi mới từng bước, có trọng tâm ở những khâu then chốt và có tác dụng đột phá nhằm tạo được những đột biến cơ bản v chất lượng đào tạo, khắc phục dứt điểm những yếu kém, bức xúc kéo dài của hệ thống GDĐH. Trong những năm qua, ộ GD và ĐT đã ưu tiên đầu tư, tập trung nguồn lực cho công tác xây dựng và ban hành ch nh sách, chỉ đạo, quản lý và thực hiện việc thanh tra, kiểm tra các đi u kiện đảm bảo chất lượng GDĐH. ên cạnh việc tiếp tục chỉ đạo thực hiện các chủ trương ch nh sách đã ban hành như Chỉ thị 296/CT-TTG của Thủ tướng Ch nh phủ v đổi mới quản lý GDĐH giai đoạn 2010-2012, Nghị quyết số 50/2010/QH12 của Quốc hội v Việc thực hiện ch nh sách, pháp luật v thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học Trong những năm qua, ộ GD và ĐT đã soạn thảo, trình Trung ương Đảng, Quốc hội, Ch nh phủ, Thủ tướng Ch nh phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp phát triển GDĐH, tạo căn cứ pháp lý thực hiện và giải quyết các vấn đ thực tiễn, từng bước nâng cao chất lượng GDĐH như: uật 11 GDĐH và các văn bản hướng dẫn uật, Nghị quyết 29-NQ/T ; Chương trình hành động của Ch nh phủ thực hiện Nghị quyết 29-NQ/T ; Kế hoạch hành động của ngành giáo dục triển khai Chương trình hành động của Ch nh phủ thực hiện Nghị quyết 29-NQ/T ; Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Ch nh phủ v việc đi u chỉnh Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020 1.2 Quan i m của Đảng v ổi mới GDĐH Từ khi giành được độc lập năm 1945 đến nay, nước ta đã ba lần tiến hành cải cách giáo dục vào năm 1950, 1956 và 1981. Ngoài ra, cùng với công cuộc đổi mới đất nước, ngành giáo dục đã có nhi u đổi mới ở các cấp học và trên nhi u lĩnh vực.
Các cuộc cải cách và đổi mới trên v cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong từng giai đoạn phát triển, góp phần to lớn vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên, GD và ĐT cũng đã t ch tụ nhi u hạn chế và yếu kém kéo dài, chậm được khắc phục, chưa đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH đất nước trong đi u kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại n n kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, đòi hỏi phải xây dựng được nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời gian tương đối ngắn. Vì vậy, đổi mới căn bản, toàn diện GD và ĐT là yêu cầu cấp thiết để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung phát triển năm 2011 khẳng định: “GD và ĐT có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển GD và ĐT cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho GD và ĐT là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện GD và ĐT theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. 12 Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020 khẳng định: Đổi mới căn bản, toàn diện n n giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định.
Trên cơ sở đánh giá toàn diện, sâu sắc thực trạng GD và ĐT cũng như xu hướng phát triển của GD và ĐT trên thế giới và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Hội nghị lần thứ 8, an Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29- NQ/T ngày 4-11-2013 “Về đổi mới căn bản toàn diện GD và ĐT đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Nghị quyết được coi là kim chỉ nam cho công cuộc đổi mới GD và ĐT nói chung, đổi mới GDĐH nói riêng trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết nêu rõ GD và ĐT là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Đổi mới căn bản, toàn diện GD và ĐT là đổi mới những vấn đ lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, ch nh sách, đi u kiện bảo đảm thực hiện. Đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở GD và ĐT cũng như việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm t nh hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.
13 Đối với GDĐH, Nghị quyết 29-NQ/T cũng chỉ rõ từ đường hướng, cách làm đến vai trò của từng thành tố trong đổi mới. Đổi mới GDĐH là: Tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở GDĐH, cơ cấu ngành ngh và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành ngh ; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.
Đổi mới GDĐH được thực hiện trên nhi u bình diện, nhi u vấn đ khác nhau.