MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Với sự thay đổi về cơ cấu kinh tế - xã hội hiện nay, việc người dân đi từ nông thôn ra thành thị là một hiện tượng mang tính quy luật khách quan, gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Đó là do những thay đổi vừa mang tính chất tự nhiên, vừa mang tính chất xã hội. Đồng thời, nó cũng biểu hiện cho sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội giữa các vùng trong một địa phương, hoặc rộng hơn là giữa các nước trên thế giới.
Đô thị thường là nơi cung cấp nhiều môi trường làm việc nên thu hút các luồng di dân từ nông thôn. Ở Việt Nam, quá trình phát triển kinh tế xã hội từ thời kỳ “Đổi Mới” vào năm 1986 chính là chất xúc tác cho dòng di cư giữa những địa phương trong nước gia tăng. Người dân được tự do di chuyển khỏi nơi ở của mình để tìm môi trường sinh sống thích hợp hơn, tốt hơn. Ngoài ra, sự khác biệt về điều kiện sống giữa các vùng ngày càng gia tăng cũng là động lực khiến người dân di cư.
Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy trong giai đoạn 2004 - 2009 có 6,6 triệu người di cư giữa trong và ngoài tỉnh của Việt Nam (Marx Kathe, Katherine Fleischer (2000), Di dân trong nước: cơ hội và thách thức. Báo cáo kết quả nghiên cứu) [24]. Bình Dương từ sau tái lập tỉnh (01/1/1997), bằng việc cải tiến thủ tục hành chính (tiếp nhận, thẩm định, cấp giấy phép đầu tư), xây dựng cơ sở hạ tầng, đã thu hút nhiều dự án đầu tư sản xuất, thị trường lao động rộng mở nên trở thành một trong những đô thị có lực hút dân di cư mạnh nhất. Theo chỉ đạo chung của tỉnh, thị xã Tân Uyên là thị xã mới có tốc độ đô thị hóa nhanh, công nghiệp phát triển mạnh, hạ tầng giao thông đồng bộ.
Chính quyền thị xã chỉ đạo đẩy nhanh tốc độ gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp, từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng công nghiệp hóa. Năm 2018 thị xã Tân Uyên đã có 3 khu công nghiệp và các cụm công nghiệp với diện tích quy hoạch lên đến hơn 5. Công nghiệp tăng nhanh cả tốc 1 độ tăng trưởng và giá trị sản xuất. Để đạt được thành tựu đó không thể không nói đến vai trò của lực lượng lao động nhập cư ở Tân Uyên.
Tân Uyên là một trong những thị xã có sức thu hút rất nhiều dân nhập cư từ các tỉnh, thành phố trong cả nước. Quá trình di dân này có tác động cho các khu công nghiệp, tác động các cụm công nghiệp với diện tích quy hoạch hơn 5.000ha, dân số tăng dẫn đến các dịch vụ tại nơi này tăng lên. Do nhiều khu công nghiệp ra đời nên cần một lượng rất lớn công nhân từ các tỉnh khác đến làm việc. Khi đi họ lại mang theo gia đình con cái để đến Tân Uyên làm việc và sinh sống, học tập.
Việc học tập của các con em công nhân lại được Đảng và nhà nước quan tâm tạo mọi điều kiện cho các em đều được đến trường học. Lao động nhập cư đến làm việc tại đây họ cũng đã góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhiều khu công nghiệp mọc lên nên thu hút nhiều công nhân đến sinh sống và làm việc. Họ dẫn theo gia đình và con cái nên dân số tăng làm cho các dịch vụ tại nơi này tăng tác động đến GDP của tỉnh, dân số tăng nên các việc nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu để giúp chính quyền địa phương có quyết sách phù hợp với tình hình thực tiễn.
Đó là lý do tôi chọn nghiên cứu đề tài “Quá trình di dân và sự phát triển kinh tế - xã hội ở thị xã Tân Uyên (2010 - 2018)”. Mục tiêu nghiên cứu - Nhận diện và phân tích quá trình di dân ở thị xã Tân Uyên từ năm 2010 - 2018. - Phân tích và đánh giá tác động của di dân đối với kinh tế - xã hội thị xã Tân Uyên. - Đề xuất những giải pháp để hạn chế những tác động tiêu cực của quá trình di dân.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Lịch sử di dân ở thị xã Tân Uyên và ảnh hưởng của di dân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Tân Uyên. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Khảo sát địa bàn thị xã Tân Uyên. 2 - Về thời gian: Từ 2010 đến 2018, đây là khoảng thời gian biến động nhiều nhất và gần nhất.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 4. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Di dân và tác động của di dân luôn là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu từ đầu thế kỷ XIX trên cơ sở hợp tác của nhiều ngành khoa học. Các công trình nghiên cứu tập trung vào các nội dung chủ yếu sau: khái niệm di dân, khái niệm nhập cư, nguyên nhân nhập cư, những tác động của người nhập cư đối với phát triển kinh tế - xã hội ở nơi đến, chính sách, biện pháp đối với hiện tượng nhập cư…. Có thể liệt kê một số công trình sau: Bài báo A Theory of Migration (Lý thuyết di dân) của Everett S.
Trong bài báo này, di cư được định nghĩa một cách rộng rãi như là một sự thay đổi tạm thời hoặc vĩnh viễn nơi cư trú. Không có giới hạn nào về khoảng cách của sự di chuyển hoặc theo tính chất tự nguyện hoặc không tự nguyện của hành động và không có sự khác biệt nào giữa di cư bên ngoài và nội bộ.Lee cho rằng nguyên nhân và hậu quả của sự di cư là có khác nhau. Đồng thời tác giả cũng khẳng định không phải tất cả các loại di chuyển trong không gian đều được bao gồm trong định nghĩa này. Trong bài báo, tác giả đã tổng kết một số các yếu tố quyết định đến việc nhập cư của người dân từ nông thôn ra thành thị.Lee thừa nhận, di dân nông thôn - đô thị chịu sự tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội nhưng ở cấp độ khác nhau.Lee lập luận rằng quyết định nhập cư được dựa trên 4 nhóm yếu tố: (1) các yếu tố gắn bó với nơi ở gốc; (2) Các yếu tố gắn với nơi sẽ đến; (3) Các trở ngại nhập cư và (4) các yếu tố thuộc về nhập cư.
Trong đó, quan trọng hơn cả là những yếu tố cơ bản liên quan đến nơi đi, gọi là “lực đẩy” và nơi đến gọi là “lực hút”. Lực đẩy: Là những yếu tố, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, chính trị, văn hóa…Ở vùng xuất phát không đáp ứng các nhu cầu sống (nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu về lao động, việc làm…) đã đẩy họ ra ngoài nơi họ đang sinh sống khiến họ phải đi tìm vùng đất mới nhằm thỏa mãn các nhu cầu của họ. 3 Trong quá trình nhập cư từ nông thôn ra thành thị, lực đẩy được xác định chủ yếu là do sự khan hiếm về đất canh tác, thiếu việc làm, thừa lao động, tiền công ít ỏi, mong muốn tìm đến vùng đất hứa để kiếm việc làm, tăng thu nhập để đầu tư cho con cái học hành với mong muốn cải thiện cuộc sống của thế hệ tương lai tại các vùng nông thôn. Ngoài ra còn có thể tính đến những yếu tố có tính phi kinh tế có tính đặc thù riêng của người di chuyển như các yếu tố tinh thần, tình cảm, đặc điểm cá nhân.
Lực hút: Là những điều kiện, yếu tố thuận lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa ở nơi đến (vùng nhập cư) đã cuốn hút người nhập cư ở nơi khác chuyển đến làm việc và sinh sống. Lực hút ở đô thị thường là cơ hội sống thuận tiện, có khả năng tìm kiếm việc làm có thu nhập cao hơn, có triển vọng cải thiện đời sống, thuận tiện trong sản xuất kinh doanh, có điều kiện tốt hơn về giáo dục, y tế, dịch vụ xã hội so với ở nông thôn. Bài báo The Laws of Migration (Các quy luật của di dân) của E. Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến những lý thuyết về di dân sớm nhất trong trường phái cổ điển, vào cuối thế kỉ XIX.
Ông đã đưa ra lý thuyết di dân với nội dung cơ bản sau: hầu hết các cuộc di chuyển của dân cư diễn ra trong khoảng cách ngắn, nữ giới tham gia di chuyển nhiều hơn nam giới trong khoảng cách ngắn, mỗi dòng di dân đều có dòng di dân ngược, di dân từ nông thôn ra thành phố chủ yếu diễn ra theo từng giai đoạn và động lực thúc đẩy chủ yếu của di dân là kinh tế. Theo ông, nhập cư xảy ra sớm bởi sự khác biệt về trình độ phát triển, bởi tiến trình công nghiệp hóa và phát triển thương mại giữa các khu vực của một quốc gia. Mặt khác, sự nhập cư bị chi phối bởi khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Những người sống ở khu vực kém phát triển hay nghèo khổ thường có xu hướng chuyển đến những khu vực phát triển hơn.
Có nghĩa là con người nhập cư vì sự chênh lệch về kinh tế giữa nơi đi và nơi đến. Bài báo Migration, unemployment and Development: A Two - Sector Analysis (Di dân, thất nghiệp và sự phát triển: Nghiên cứu 2 khu vực) của John H. Harris và Micheal Torado [20]. Hai tác giả John H.
Harris và Micheal Torado đã nghiên cứu hiện tượng nhập cư vào thành thị tăng tốc trong bối cảnh thất nghiệp ở 4 thành thị vẫn tiếp tục gia tăng. Khác với mô hình “Hai khu vực” (Dual sector - khu vực kép) của Arthur Lewis lý giải nguồn gốc của việc nhập cư dựa vào giả định “dư thừa lao động” trong khu vực nông thôn, mô hình “Thu nhập kỳ vọng” của Harris - Todaro giải thích quyết định của người lao động nhập cư từ khu vực nông thôn ra thành thị dựa trên sự khác biệt về mức thu nhập dự kiến có được trong một khoảng thời gian nhất định ở thành thị với mức thu nhập trung bình đang có ở nông thôn. Như vậy, nghiên cứu của hai ông đã bổ sung thêm nguyên nhân nhập cư vào thành thị ở các nước phát triển bao gồm cả sự kỳ vọng của người nhập cư về khả năng thu nhập ở thành thị cao hơn và cuộc sống tốt hơn. Đặc biệt, mô hình Harris - Todaro thừa nhận sự tồn tại của khu vực kinh tế phi chính thức (Informal Sector).