Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh đạt bình quân 13,5% mỗi năm. Cùng với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, sức ép từ chất thải rắn sinh hoạt ngày càng gia tăng. Năm 2007, tổng khối lượng rác thải toàn tỉnh đạt khoảng 140 tấn mỗi ngày và dự kiến tăng trưởng thêm 23,65% vào năm 2018 khi quy mô dân số dự báo tăng từ 1 triệu người lên 1,25 triệu người vào năm 2032. Nhằm giải quyết triệt để bài toán rác thải, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã ban hành Quyết định số 1687/QĐ-UBND phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Khu xử lý chất thải bảo vệ môi trường tại xã Phù Lãng, huyện Quế Võ trên diện tích 39 ha, chính thức tiếp nhận và xử lý khoảng 230 tấn rác mỗi ngày từ năm 2014 cho thành phố Bắc Ninh và huyện Quế Võ.

Tuy nhiên, hơn 80% thành phần chất thải đưa vào bãi là rác hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học, khi chôn lấp trong điều kiện yếm khí đã phát sinh khối lượng lớn khí nhà kính, đặc biệt là khí metan CH4 chiếm 45% đến 60% và cacbon dioxit CO2 chiếm 40% đến 60% thể tích. Luận văn thạc sĩ biến đổi khí hậu tập trung đánh giá hiện trạng phát thải khí nhà kính tại bãi chôn lấp Phù Lãng, mô phỏng dự báo phát thải khí metan đến năm 2050 và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý đồng bộ. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng, hỗ trợ cơ quan quản lý cắt giảm lượng phát thải tương đương hàng chục nghìn tấn CO2 mỗi năm, cải thiện chất lượng môi trường không khí và đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh Bắc Ninh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân hủy sinh học kỵ khí chất thải rắn và lý thuyết bảo toàn vật chất. Quá trình phân hủy chất thải hữu cơ trong bãi chôn lấp diễn ra tuần tự qua 5 giai đoạn sinh hóa:

  • Giai đoạn 1 (Hiếu khí ban đầu): Vi sinh vật hiếu khí sử dụng oxy có sẵn trong khe rỗng của rác để phân hủy chất hữu cơ, sinh ra khí CO2 và nhiệt lượng.
  • Giai đoạn 2 (Chuyển tiếp kỵ khí): Oxy bị cạn kiệt, vi khuẩn chuyển hóa hợp chất hữu cơ thành các axit béo bay hơi như axit axetic, axit lactic, làm thế oxy hóa khử giảm xuống mức âm 150 mV đến âm 300 mV.
  • Giai đoạn 3 (Axit hóa): Các hợp chất hữu cơ cao phân tử như protein, lipid bị thủy phân thành axit axetic, làm độ pH của nước rỉ rác giảm sâu xuống dưới mức 5, hòa tan nhiều kim loại nặng và làm tăng vọt chỉ số BOD5, COD.
  • Giai đoạn 4 (Metan hóa): Vi khuẩn metan chuyển hóa axit axetic và hydro thành hỗn hợp khí CH4 và CO2, đưa độ pH cân bằng trở lại ngưỡng 6,8 đến 8,0.
  • Giai đoạn 5 (Ổn định): Chất hữu cơ dễ phân hủy cạn kiệt, tốc độ sinh khí giảm dần và nước rỉ rác chủ yếu chứa các hợp chất humic khó phân hủy.

Bên cạnh đó, mô hình phân tích dòng vật chất (Material Flow Analysis - MFA) được ứng dụng dựa trên định luật bảo toàn khối lượng để lượng hóa dòng rác đầu vào, dòng khí thoát ra và lượng mùn tích lũy. Các khái niệm cốt lõi bao gồm: công nghệ xử lý cơ học kết hợp sinh học (MBT), hệ số hiệu chỉnh metan (MCF), tiềm năng phân hủy sinh học và hệ số phát thải khí bãi rác theo tiêu chuẩn của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tích hợp chuỗi dữ liệu thứ cấp từ Công ty TNHH MTV Môi trường và Công trình Đô thị Bắc Ninh kết hợp khảo sát thực địa từ năm 2013 đến năm 2018. Dữ liệu đầu vào bao gồm khối lượng rác tiếp nhận thực tế 230 tấn mỗi ngày và dự báo tăng trưởng đến năm 2050.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu thực hiện lấy mẫu rác ngẫu nhiên theo phương pháp chia tư tiêu chuẩn từ các phương tiện vận chuyển rác có dung tích từ 15 m3 đến 40 m3 đưa về khu xử lý Phù Lãng. Mẫu đại diện có khối lượng 100 kg được phân loại thủ công thành các hợp phần cơ học và phân tích trong phòng thí nghiệm. Việc lựa chọn phương pháp này nhằm xác định chính xác tỷ lệ chất rắn bay hơi (VS), độ ẩm và hàm lượng lignin biến thiên từ 0,4% ở rác thực phẩm đến 21,9% ở giấy báo, vốn là các biến số quyết định tốc độ phân hủy sinh học.

Phương pháp phân tích: Sử dụng mô hình suy giảm bậc nhất LandGEM do Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ phát triển kết hợp hướng dẫn kiểm kê IPCC 2006. LandGEM cho phép xác định chính xác tốc độ sinh khí metan tiềm năng (L0) và hệ số phân hủy kỵ khí (k) phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa tại miền Bắc Việt Nam, tạo nền tảng cho việc dự báo lượng khí phát thải liên tục theo chuỗi thời gian từ năm 2013 đến năm 2050.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thành phần rác thải sinh hoạt đầu vào tại Khu xử lý Phù Lãng có đặc trưng điển hình của chất thải đô thị nhiệt đới với tỷ lệ chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học chiếm trên 83% tổng khối lượng. Trong đó, rác thực phẩm có tiềm năng phân hủy sinh học cao nhất đạt 0,82 tính theo hàm lượng chất rắn bay hơi và hàm lượng lignin rất thấp chỉ 0,4%, dẫn đến việc giải phóng khí metan diễn ra với tốc độ cực nhanh ngay trong 2 đến 3 năm đầu chôn lấp.

Thứ hai, hỗn hợp khí phát sinh từ bãi chôn lấp ghi nhận nồng độ khí nhà kính vượt trội với khí CH4 chiếm từ 45% đến 60% thể tích và khí CO2 chiếm từ 40% đến 60% thể tích. Ngoài ra, bãi rác còn phát thải các khí vi lượng độc hại như khí amoniac NH3 chiếm 0,1% đến 1,0%, hydro sunfua H2S và hợp chất mercaptan gây mùi hôi nồng nặc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan và môi trường không khí xung quanh bán kính 5 km.

Thứ ba, kết quả tính toán theo mô hình LandGEM cho thấy phát thải khí metan tăng nhanh theo lượng rác tiếp nhận hàng ngày từ 230 tấn năm 2014 và sẽ đạt đỉnh điểm hàng nghìn tấn CH4 mỗi năm vào giai đoạn 2030 đến 2035 nếu tiếp tục vận hành bãi chôn lấp với công nghệ hiện tại. Tổng lượng khí nhà kính phát thải tích lũy đến năm 2050 sẽ lên tới hàng trăm nghìn tấn CO2 tương đương nếu không có biện pháp thu hồi khí sinh học.

Thứ tư, công nghệ MBT đang áp dụng thông qua việc ủ luống hiếu khí thụ động cao 2 đến 3 mét, rộng 30 mét trong thời gian tối thiểu 3 tháng đã giúp giảm khối lượng rác trước khi chôn lấp. Tuy nhiên, do luống ủ không có lớp che phủ kín và thiếu hệ thống thu gom khí gas chuyên dụng, hơn 70% lượng khí phát sinh trong quá trình lên men vẫn thất thoát trực tiếp vào khí quyển.

Thảo luận kết quả

Cơ chế phân hủy sinh hóa tại bãi rác Phù Lãng diễn ra rất mạnh mẽ do độ ẩm rác cao và nền nhiệt độ thuận lợi cho vi sinh vật kỵ khí phát triển. Quá trình axit hóa kéo dài khiến độ pH của nước rỉ rác giảm xuống dưới 5, làm tăng độ hòa tan của các kim loại nặng và tạo áp lực lớn lên hệ thống xử lý nước thải. Khi chuyển sang giai đoạn metan hóa, pH tăng lên mức 6,8 đến 8,0 nhưng đồng thời lượng khí metan phát tán cũng đạt mức cực đại.

Khi so sánh với thực tiễn các đô thị lớn tại Việt Nam, tỷ lệ chất thải chôn lấp trên 75% tại Bắc Ninh tương đồng với bãi rác Nam Sơn tại Hà Nội (tiếp nhận khoảng 3.000 tấn/ngày) và bãi rác Đa Phước tại TP.HCM (tiếp nhận khoảng 6.000 tấn/ngày). Tuy nhiên, so với các quốc gia phát triển như Nhật Bản với tỷ lệ thiêu hủy đạt 68% và chỉ chôn lấp 20,4%, hoặc Singapore với tỷ lệ đốt thu hồi năng lượng lên đến 93% và chôn lấp chỉ 7%, phương thức xử lý tại Phù Lãng còn bộc lộ nhiều điểm bất cập về hiệu quả tài nguyên và kiểm soát khí nhà kính.

Trong cấu trúc luận văn, các kết quả này được trình bày trực quan thông qua bảng phân tích 5 nhóm thành phần chất thải cơ bản, biểu đồ đường biểu diễn động thái phát thải khí CH4 và CO2 theo mô hình LandGEM từ 2013 đến 2050, cùng sơ đồ mặt cắt cấu tạo luống ủ rác thông khí thụ động kết hợp màng lọc sinh học.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 giải pháp trọng tâm nhằm kiểm soát và giảm thiểu phát thải khí nhà kính tại Khu xử lý chất thải Phù Lãng:

Thứ nhất, lắp đặt hệ thống thu hồi và đốt khí bãi rác (LFG) kết hợp phát điện.

  • Hành động: Xây dựng hệ thống giếng thu gom khí thẳng đứng, mạng lưới ống dẫn khí và trạm phát điện biogas khép kín.
  • Chỉ số mục tiêu: Thu gom và xử lý đạt từ 65% đến 75% tổng lượng khí metan phát sinh, cắt giảm khoảng 15.000 đến 25.000 tấn CO2 tương đương mỗi năm.
  • Lộ trình: Hoàn thành chuẩn bị đầu tư và vận hành thử nghiệm trong giai đoạn 2024 đến 2027.
  • Chủ thể thực hiện: Công ty TNHH MTV Môi trường và Công trình Đô thị Bắc Ninh chủ trì, phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường.

Thứ hai, tối ưu hóa quy trình công nghệ xử lý cơ học kết hợp sinh học (MBT).

  • Hành động: Kéo dài thời gian ủ thoáng khí thụ động từ 3 tháng lên 5 đến 6 tháng, bổ sung chế phẩm vi sinh nhằm tăng tốc độ khoáng hóa chất hữu cơ và sử dụng lớp phủ sinh học bằng mùn compost đã hoai mục dày 20 cm để hấp thụ mùi và khí CH4.
  • Chỉ số mục tiêu: Giảm 40% thể tích chất thải rắn đưa vào ô chôn lấp và giảm 30% lượng khí phát tán ngoài trời.
  • Lộ trình: Áp dụng đại trà từ năm 2024 đến 2026.
  • Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý Khu xử lý chất thải Phù Lãng.

Thứ ba, triển khai chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn.

  • Hành động: Thiết lập hệ thống thùng chứa phân màu, tổ chức thu gom riêng biệt rác hữu cơ dễ phân hủy và rác tái chế trên địa bàn thành phố Bắc Ninh và huyện Quế Võ.
  • Chỉ số mục tiêu: Đạt tỷ lệ 80% hộ dân phân loại đúng quy chuẩn vào năm 2030, giảm 50% khối lượng rác hữu cơ chôn lấp trực tiếp.
  • Lộ trình: Giai đoạn 2024 đến 2030.
  • Chủ thể thực hiện: UBND tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo UBND thành phố Bắc Ninh, UBND huyện Quế Võ và các hội đoàn thể địa phương.

Thứ tư, chuyển đổi công nghệ xử lý sang mô hình đốt rác phát điện (Waste-to-Energy).

  • Hành động: Xây dựng nhà máy đốt rác phát điện hiện đại theo hình thức đối tác công tư (PPP) với công suất xử lý 500 đến 800 tấn mỗi ngày để thay thế dần phương pháp chôn lấp truyền thống.
  • Chỉ số mục tiêu: Giảm tỷ lệ chôn lấp chất thải toàn tỉnh xuống dưới 15% vào năm 2050, tận dụng nhiệt lượng phát điện hòa lưới quốc gia.
  • Lộ trình: Giai đoạn 2026 đến 2035.
  • Chủ thể thực hiện: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường kêu gọi các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, đặc biệt phù hợp với 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và đô thị: Các đơn vị như Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng và UBND các cấp tại tỉnh Bắc Ninh cùng các tỉnh Đồng bằng sông Hồng có thể sử dụng số liệu kiểm kê và kết quả mô phỏng phát thải để xây dựng quy hoạch quản lý chất thải rắn tổng hợp, đồng thời lồng ghép chỉ tiêu giảm phát thải vào Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp tỉnh.

Đơn vị vận hành bãi chôn lấp và doanh nghiệp môi trường: Các công ty môi trường đô thị trực tiếp áp dụng quy trình công nghệ MBT cải tiến, thiết lập kỹ thuật đống luống ủ thoáng khí và phương pháp quan trắc dòng vật chất (MFA) để tối ưu chi phí vận hành, hạn chế mùi hôi và kiểm soát an toàn nước rỉ rác tại các bãi rác đang hoạt động.

Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Giảng viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Biến đổi Khí hậu, Kỹ thuật Môi trường có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa mô hình LandGEM và hướng dẫn IPCC 2006 làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu tình huống điển hình về động học phân hủy rác thải vùng nhiệt đới.

Doanh nghiệp phát triển dự án carbon và năng lượng tái tạo: Các nhà đầu tư dự án thu hồi khí sinh học phát điện (Biogas-to-Energy) sử dụng các thông số tính toán phát thải trong luận văn để lập báo cáo khả thi, đánh giá tiềm năng thương mại hóa tín chỉ carbon theo cơ chế quốc tế và Điều 6 của Thỏa thuận Paris.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình LandGEM có ưu thế gì trong việc dự báo phát thải khí nhà kính tại bãi rác Phù Lãng? Mô hình LandGEM ứng dụng phương trình phân hủy bậc nhất kết hợp với các thông số đặc thù như hệ số sinh khí tiềm năng (L0) và tốc độ phân hủy (k). Mô hình cho phép định lượng chính xác lượng khí CH4 và CO2 sinh ra liên tục theo từng năm dựa trên dữ liệu tiếp nhận 230 tấn rác mỗi ngày, giúp dự báo chuẩn xác kịch bản phát thải dài hạn đến năm 2050.

Tại sao rác thải sinh hoạt tại Bắc Ninh lại phát sinh lượng khí metan cao trong thời gian ngắn? Thành phần chất thải tại địa phương chứa trên 83% chất hữu cơ có nguồn gốc từ thực phẩm với tỷ lệ lignin thấp chỉ 0,4% và độ ẩm cao. Các đặc tính lý hóa này tạo môi trường lý tưởng cho vi sinh vật kỵ khí hoạt động mạnh mẽ, thúc đẩy tốc độ phân hủy và giải phóng hỗn hợp khí có nồng độ CH4 đạt tới 45% đến 60% chỉ sau 2 đến 3 năm chôn lấp.

Công nghệ xử lý cơ học kết hợp sinh học MBT giúp giảm phát thải khí nhà kính như thế nào? Công nghệ MBT phân loại sơ bộ các thành phần tái chế và đưa rác hữu cơ vào các luống ủ hiếu khí cao 2 đến 3 mét trong 3 tháng. Quá trình này giúp oxy hóa chất hữu cơ thành CO2 và nước trong điều kiện thoáng khí, làm giảm đáng kể lượng hợp chất hữu cơ dễ phân hủy kỵ khí trước khi chuyển rác vào bãi chôn lấp, từ đó giảm thiểu nguy cơ phát sinh khí metan.

Nước rỉ rác có ảnh hưởng gì đến tốc độ phát sinh khí CH4 trong bãi chôn lấp? Trong giai đoạn đầu, nước rỉ rác có độ pH giảm mạnh dưới mức 5 do tích tụ nhiều axit hữu cơ, gây ức chế vi khuẩn sinh metan. Khi các axit này được vi sinh vật chuyển hóa, độ pH tăng lên ngưỡng tối ưu từ 6,8 đến 8,0, tạo điều kiện thuận lợi nhất để vi khuẩn metan hóa phát triển bùng nổ và đẩy nhanh tốc độ tạo khí bãi rác.

Nghiên cứu này đóng góp thế nào vào mục tiêu Net Zero vào năm 2050 của Việt Nam? Luận văn cung cấp phương pháp định lượng và đề xuất các giải pháp thu hồi biogas, nâng cấp MBT và đốt rác phát điện nhằm cắt giảm hơn 70% lượng khí CH4 tại bãi rác Phù Lãng. Đây là cơ sở khoa học trực tiếp hỗ trợ ngành quản lý chất thải rắn thực hiện cam kết giảm phát thải khí metan toàn cầu và lộ trình đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng toàn diện dòng vật chất và hiện trạng phát thải khí nhà kính từ 230 tấn rác sinh hoạt mỗi ngày tại Khu xử lý chất thải Phù Lãng.
  • Kết quả phân tích chỉ rõ thành phần rác chứa trên 83% chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, phát sinh nồng độ khí CH4 chiếm từ 45% đến 60% và khí CO2 chiếm từ 40% đến 60% thể tích.
  • Mô hình LandGEM đã mô phỏng thành công động thái phát thải khí nhà kính theo chuỗi thời gian liên tục từ năm 2013 đến năm 2050, làm rõ áp lực ô nhiễm môi trường khí nếu duy trì công nghệ chôn lấp hiện tại.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ: thu hồi biogas phát điện, cải tiến công nghệ luống ủ MBT, phân loại rác tại nguồn và xây dựng nhà máy đốt rác phát điện.
  • Cung cấp luận cứ khoa học tin cậy hỗ trợ tỉnh Bắc Ninh hoàn thiện quy hoạch quản lý chất thải rắn, hướng tới mục tiêu xây dựng đô thị thông minh, xanh và bền vững.

Kế hoạch tiếp theo cần tập trung triển khai các mô hình thử nghiệm thu hồi khí sinh học quy mô bán công nghiệp và đẩy mạnh công tác tuyên truyền phân loại rác tại cộng đồng dân cư. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp hãy chủ động ứng dụng kết quả nghiên cứu này để xây dựng các giải pháp giảm phát thải thiết thực, chung tay bảo vệ môi trường và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu toàn cầu.