Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Lào Cai là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Lào Cai và giữ vị trí chiến lược trên hành lang kinh tế Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng. Năm 2014, địa phương chính thức được công nhận là đô thị loại 2, kéo theo sự gia tăng nhanh chóng về nhu cầu sử dụng đất cho công nghiệp, hạ tầng giao thông và dịch vụ du lịch. Năm 2015, thành phố đón gần 1,2 triệu lượt khách du lịch, đạt 133% kế hoạch năm, đồng thời doanh thu thương mại dịch vụ đạt 10.066 tỷ đồng. Quá trình chuyển dịch cơ cấu trên tổng diện tích tự nhiên 22.967 ha (gồm 6.243 ha nội thành và 16.724 ha ngoại thành) đã tạo ra những xung đột gay gắt giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và yêu cầu bảo tồn môi trường sinh thái.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu hụt các chỉ tiêu môi trường định lượng trong việc lập và thực thi phương án quy hoạch đất đai. Việc bố trí các khu công nghiệp như Đông Phố Mới, Bắc Duyên Hải xen cài gần khu dân cư và các điểm khai thác quặng apatit đã phát sinh nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng trong đất và ô nhiễm hữu cơ trong nguồn nước. Mục tiêu của luận văn là đánh giá hiện trạng các thành phần môi trường (đất, nước, không khí) trong giai đoạn 2011 - 2015, từ đó đề xuất hệ thống chỉ số kiểm soát môi trường tích hợp vào quy hoạch sử dụng đất thành phố Lào Cai đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai trên toàn địa bàn thành phố Lào Cai trong giai đoạn từ tháng 7 năm 2015 đến tháng 10 năm 2016. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, hỗ trợ chính quyền địa phương hoàn thiện phương án phân bổ đất đai bền vững, bảo đảm giữ vững tỷ lệ che phủ rừng trên 42,8% và giảm thiểu tối đa các rủi ro sinh thái trong tiến trình đô thị hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển bền vững do Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển khởi xướng, khẳng định yêu cầu phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường và bảo đảm quyền lợi của các thế hệ tương lai. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết quy hoạch sử dụng đất tổng hợp của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc kết hợp với khung đánh giá chỉ tiêu môi trường vùng núi Tây Bắc của các chuyên gia quản lý đất đai tại Việt Nam.

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng các khái niệm then chốt: quy hoạch sử dụng đất, đánh giá môi trường chiến lược, sức tải môi trường, và hành lang đệm cách ly sinh thái. Cơ sở pháp lý trực tiếp bao gồm Luật Đất đai năm 2013 (Luật số 45/2013/QH13), Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (Luật số 55/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015), Nghị định 18/2015/NĐ-CP và Thông tư 27/2015/TT-BTNMT quy định về đánh giá môi trường chiến lược và kế hoạch bảo vệ môi trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học với cỡ mẫu 100 phiếu khảo sát. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng cho hai nhóm đối tượng chính: các hộ gia đình sinh sống tại các khu vực chịu tác động và cán bộ quản lý thuộc Ủy ban nhân dân các xã, phường trên địa bàn thành phố Lào Cai. Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm số liệu quan trắc định kỳ giai đoạn 2011 - 2015 từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai, Niên giám thống kê thành phố Lào Cai năm 2016 và báo cáo quy hoạch đất đai địa phương.

Phương pháp phân tích dữ liệu chủ đạo là thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh chuẩn hóa đối chiếu với các Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia hiện hành (QCVN 05:2013/BTNMT về không khí, QCVN 03:2008/BTNMT về đất, QCVN 08:2008/BTNMT về nước mặt và QCVN 09:2008/BTNMT về nước ngầm). Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm định lượng chính xác mức độ và tỷ lệ vượt ngưỡng của từng thông số ô nhiễm, tạo cơ sở khách quan để khoanh vùng các khu vực nhạy cảm sinh thái trên phần mềm phân tích dữ liệu chuyên dụng. Toàn bộ quy trình khảo sát, thu thập và xử lý số liệu được thực hiện liên tục từ tháng 7 năm 2015 đến tháng 10 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chất lượng môi trường không khí và nước ngầm tại thành phố Lào Cai duy trì ở mức an toàn cao. Tại 5 vị trí quan trắc không khí, nồng độ khí CO dao động từ 1,286 mg/m3 đến 2,211 mg/m3, thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng quy chuẩn 30 mg/m3 theo QCVN 05:2013/BTNMT; nồng độ bụi lơ lửng TSP cao nhất tại khu dân cư gần Khu công nghiệp Bắc Duyên Hải chỉ đạt 0,155 mg/m3 (giới hạn là 0,300 mg/m3). Toàn bộ 6 vị trí quan trắc nước ngầm đều đạt chuẩn QCVN 09:2008/BTNMT với hàm lượng sắt tổng số dao động từ 1,46 mg/l đến 2,72 mg/l (chuẩn cho phép là 5 mg/l).

Thứ hai, môi trường đất tại các khu công nghiệp và khai khoáng ghi nhận mức độ ô nhiễm kim loại nặng đáng báo động. Kết quả phân tích tại Khu công nghiệp Đông Phố Mới cho thấy hàm lượng Asen đạt 37,04 mg/kg (vượt 3,87 lần quy chuẩn 12 mg/kg), hàm lượng Chì đạt 443,7 mg/kg (vượt 1,48 lần chuẩn 300 mg/kg), và hàm lượng Đồng đạt 211,7 mg/kg (vượt 2,11 lần chuẩn 100 mg/kg theo QCVN 03:2008/BTNMT). Tại Khai trường 22 xã Đồng Tuyển, hàm lượng Asen đạt 18,97 mg/kg (vượt 1,58 lần) và tại Khu công nghiệp Bắc Duyên Hải hàm lượng Đồng đạt 127,7 mg/kg (vượt 1,28 lần quy chuẩn). Tuy nhiên, mẫu đất dân sinh lân cận Khu công nghiệp Đông Phố Mới vẫn nằm trong ngưỡng an toàn với hàm lượng Asen là 4,39 mg/kg và Chì là 39,81 mg/kg.

Thứ ba, nguồn nước mặt bị suy giảm chất lượng cục bộ bởi chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng. Điểm quan trắc nước suối Ngòi Đường tại phía nam mỏ Cóc (xã Tả Phời) có thông số COD đạt 137,8 mg/l (vượt 4,59 lần chuẩn 30 mg/l), BOD5 đạt 65,1 mg/l (vượt 5,43 lần chuẩn 12 mg/l) và TSS đạt 350 mg/l (vượt 7,00 lần chuẩn 50 mg/l theo QCVN 08:2008/BTNMT Cột B1). Tại bến đò Làng Giàng trên sông Hồng, hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS đo được là 359 mg/l, vượt 7,18 lần so với quy chuẩn cho phép.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tích tụ kim loại nặng trong đất là do hoạt động sản xuất công nghiệp luyện kim, hóa chất và khai thác quặng apatit chưa có hệ thống thu gom triệt để chất thải rắn nguy hại. Tình trạng ô nhiễm TSS và các hợp chất hữu cơ tại suối Ngòi Đường bắt nguồn trực tiếp từ nước chảy tràn qua các bãi thải tuyển quặng mỏ Cóc và nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý của khu vực Cam Đường.

Khi thảo luận kết quả, các dữ liệu này có thể được mô tả trực quan và sinh động thông qua biểu đồ cột đa trục biểu diễn mức độ vượt ngưỡng của các kim loại nặng theo từng vị trí, kết hợp cùng bảng ma trận đối chiếu mức độ phát thải theo không gian địa lý. So sánh với các nghiên cứu quy hoạch đô thị vùng Trung du và Miền núi phía Bắc cho thấy, sự thiếu vắng hành lang cách ly cây xanh tối thiểu 50 - 100m là lỗ hổng lớn nhất trong kỳ quy hoạch 2011 - 2015, biến các khu công nghiệp thành những nguồn phát tán ô nhiễm tiềm tàng cho khu vực dân cư lân cận.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết lập vành đai xanh cách ly sinh thái quanh các cơ sở sản xuất công nghiệp. Ủy ban nhân dân thành phố Lào Cai chủ trì phối hợp cùng Ban Quản lý các Khu công nghiệp triển khai quy hoạch dải cây xanh cách ly đạt chiều rộng tối thiểu từ 50m đến 100m bao quanh Khu công nghiệp Đông Phố Mới và Bắc Duyên Hải. Target metric là nâng độ che phủ rừng toàn thành phố từ 42,8% năm 2015 lên mức trên 45,0% vào năm 2020, hoàn thành trong giai đoạn 2017 - 2019.

Thứ hai, kiểm soát nghiêm ngặt và xử lý triệt để nước thải khai thác khoáng sản. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai yêu cầu các doanh nghiệp khai thác quặng apatit tại mỏ Cóc (Tả Phời) và mỏ Cam Đường xây dựng hệ thống đê bao lắng đọng bùn thải và trạm xử lý nước thải đạt 100% quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT trước khi xả ra lưu vực suối Ngòi Đường và sông Hồng. Thời hạn hoàn thành vào quý IV năm 2018 nhằm đưa chỉ số TSS về dưới mức 50 mg/l.

Thứ ba, thực hiện các biện pháp cải tạo và phục hồi môi trường đất bị ô nhiễm kim loại nặng. Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Lào Cai chủ trì ứng dụng công nghệ thực vật cải tạo đất kết hợp với các biện pháp cố định hóa học tại 100% các điểm đất vượt ngưỡng Asen và Chì xung quanh các khu công nghiệp và khai trường khai khoáng, bảo đảm đưa hàm lượng Asen về dưới 12 mg/kg trước năm 2020.

Thứ tư, hoàn thiện lồng ghép quy chuẩn đánh giá môi trường chiến lược vào quy hoạch sử dụng đất kỳ 2016 - 2020. Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Lào Cai cùng đơn vị tư vấn quy hoạch phải tích hợp bộ chỉ tiêu kiểm soát chất thải, nâng tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải đô thị từ 80% năm 2015 lên đạt trên 95% vào năm 2020, đồng thời bảo đảm diện tích đất cây xanh đô thị đạt mức 10 - 12 m2/người.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và môi trường: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Lào Cai có thể sử dụng trực tiếp các số liệu và khung giải pháp để thẩm định, phân bổ chỉ tiêu quy hoạch đất đai giai đoạn tiếp theo, hạn chế các xung đột môi trường phát sinh từ việc mở rộng không gian đô thị.

Nhóm viện nghiên cứu và chuyên gia quy hoạch: Các nhà khoa học, kiến trúc sư quy hoạch đô thị - nông thôn tìm thấy trong luận văn mô hình phương pháp luận tích hợp các chỉ tiêu môi trường vào bản đồ sử dụng đất, áp dụng hiệu quả cho các đô thị miền núi có đặc thù công nghiệp khai khoáng.

Nhóm doanh nghiệp khai thác khoáng sản và phát triển hạ tầng khu công nghiệp: Các đơn vị quản lý tại Khu công nghiệp Đông Phố Mới, Bắc Duyên Hải và Công ty Apatit Việt Nam tham khảo số liệu kim loại nặng để thiết kế hệ thống xử lý chất thải nội khu, xây dựng giải pháp hoàn nguyên môi trường đất sau khai thác đúng quy định pháp luật.

Nhóm học viên cao học và sinh viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Đất đai: Luận văn cung cấp tài liệu học thuật giá trị về quy trình phân tích dữ liệu quan trắc đối chiếu quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, phương pháp điều tra xã hội học và thiết kế giải pháp quy hoạch đất bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Vấn đề môi trường bức xúc nhất trong quy hoạch sử dụng đất thành phố Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015 là gì? Vấn đề bức xúc nhất là sự ô nhiễm kim loại nặng trong đất tại các khu công nghiệp và khai trường khai khoáng. Tại Khu công nghiệp Đông Phố Mới, hàm lượng Asen đo được là 37,04 mg/kg, vượt 3,87 lần quy chuẩn QCVN 03:2008/BTNMT, đòi hỏi phải có giải pháp phân vùng cách ly khẩn cấp trong quy hoạch đất đai.

Chất lượng môi trường không khí tại thành phố Lào Cai trong giai đoạn nghiên cứu có đạt tiêu chuẩn không? Chất lượng không khí tại thành phố Lào Cai rất trong sạch và đạt chuẩn an toàn. Nồng độ khí CO tại 5 vị trí quan trắc chỉ dao động từ 1,286 đến 2,211 mg/m3, thấp hơn nhiều so với giới hạn cho phép 30 mg/m3; nồng độ bụi lơ lửng TSP cao nhất chỉ ở mức 0,155 mg/m3 so với ngưỡng 0,300 mg/m3 theo QCVN 05:2013/BTNMT.

Nguyên nhân khiến nước mặt suối Ngòi Đường bị ô nhiễm chất rắn lơ lửng và chất hữu cơ là do đâu? Nguyên nhân chủ yếu do nước chảy tràn mang theo bùn đất từ các bãi khai thác mỏ Cóc (xã Tả Phời) và nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý của khu vực dân cư Cam Đường. Mẫu nước tại đây ghi nhận chỉ số TSS vượt 7,00 lần và BOD5 vượt 5,43 lần so với quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT.

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu và phương pháp điều tra nào để thu thập ý kiến cộng đồng? Luận văn đã triển khai khảo sát thực tế với cỡ mẫu gồm 100 phiếu điều tra xã hội học. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng cho hai nhóm: hộ gia đình và cán bộ quản lý cấp xã, phường nhằm đánh giá thực trạng sử dụng đất và nhận thức môi trường của người dân địa phương.

Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn tiếp theo cần ưu tiên chỉ tiêu môi trường nào? Ưu tiên hàng đầu là nâng tỷ lệ che phủ rừng từ 42,8% năm 2015 lên trên 45,0% vào năm 2020, đồng thời nâng tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị đạt trên 95% nhằm bảo đảm các tiêu chuẩn phát triển bền vững của đô thị loại 2.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng môi trường đất, nước, không khí trên địa bàn thành phố Lào Cai với quy mô diện tích tự nhiên 22.967 ha.
  • Xác định điểm nóng ô nhiễm kim loại nặng tại Khu công nghiệp Đông Phố Mới với hàm lượng Asen vượt 3,87 lần và Chì vượt 1,48 lần so với quy chuẩn quốc gia.
  • Ghi nhận nguồn nước mặt suối Ngòi Đường bị ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng với thông số TSS vượt 7,00 lần quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT.
  • Khẳng định chất lượng môi trường không khí và nước ngầm tại toàn bộ các điểm nghiên cứu trên địa bàn thành phố vẫn nằm trong giới hạn an toàn.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp tích hợp dải cây xanh cách ly rộng 50 - 100m và đề xuất các chỉ tiêu môi trường bắt buộc cho kỳ quy hoạch đất đai đến năm 2020.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là hoàn thiện cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc lồng ghép các chỉ tiêu môi trường vào quy hoạch sử dụng đất đô thị miền núi biên giới. Bước tiếp theo trong giai đoạn 2017 - 2020 là cần đẩy mạnh ứng dụng hệ thống thông tin địa lý để giám sát biến động chất lượng đất và nước tại các khu vực công nghiệp. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể áp dụng ngay mô hình giải pháp này nhằm thúc đẩy phát triển đô thị xanh và bền vững.