CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về đề tài 1. Tầm quan trọng của cấy chè đối vơi đời sống con người Chè là loại cây trồng 1 lần nhưng có thể thu hoạch nhiều lần: từ 30 đến 50 năm. Trồng và thâm canh từ đầu, liên tục trong 3 năm cây chè được đưa vào giai đoạn thu hoạch do có tính ổn định về năng suất mang lại lợi ích kinh tế cao.
Ngoài ra cây chè là cây cần nhiều lao động trong việc trồng và thu hoạch. Từ búp chè hay các phần khác của cây chè mà người ta chế tạo ra các sản phẩm khác nhau như: chè tươi, chè túi lọc, chè xanh, chè đen, chè vàng. Các kết quả nghiên cứu khảo cổ kết hợp với tra cứu sử sách của Việt Nam và Trung Quốc đều cho thấy rằng tuy Trung Quốc được xem là nơi truyền bá việc uống trà, nhưng cây chè lại là cây bản địa của Việt Nam, có thể gọi Việt Nam là một trong những quê hương của chè cây chè cổ, điều này được khẳng định cả trong và ngoài nước (theo Ủy ban khoa học xã hội, “Trà Kinh” của Lục Vũ, “Nghiêm Bắc tạp chí” của Lý Trọng Tân,…). Trà với công dụng làm con người tỉnh táo đã trở thành thức uống giải khát của người Việt từ thế kỷ III.
Không những thế, trà còn được nâng lên thành một nét phong tục, một thú vui [3]. Chè có nhiều vitamin giúp thanh lọc cơ thể, giải khát, có tác dụng giảm thiểu một số bệnh thường gặp về máu. do đó chè đã trở thành đồ uống phổ thông trên thế giới Tại một số nước thói quen uống nước chè đã tạo thành một nền văn hóa truyền thống, một tập quán. Hiện nay khoa học tiến bộ đã đi sâu vào nghiên cứu tìm ra được một số hoạt chất quý có trong cây chè như: cafein, vitamin A, B1.
Đặc biệt trong cây chè còn chứa Vitamin C là loại Vitamin dùng để điều chế thuốc tân dược vì thế chè không những là loại cây giải khát mà chè còn có tên trong danh sách cây y dược [12]. Ở Nhật Bản, cây c 6 chè bắt đầu được biết đến khi nhà sư Saicho mang từ Trung Quốc sang vào thế kỷ thứ VIII cùng với các tư tưởng văn hóa, nghề trồng trọt, Phật giáo. Tuy nhiên, trà chỉ thực sự chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của người dân Nhật kể từ khi nhà sư Eisai gieo trồng trong vườn chùa những hạt giống cây chè ông mang về từ Trung Quốc trong chuyến đi tham vấn học đạo vào năm 1191, ông đã khuyến khích nông dân, Phật tử trồng loại cây này, đồng thời quảng bá những lợi ích của trà về mặt y học. Hiếm có một quốc gia nào mà ở đó, trà được nâng lên thành “đạo” như ở Nhật Bản.
Đó là sự kết hợp giữa tính Thiền của Phật giáo và sự giản dị trong văn hóa uống trà [6]. Chè còn là một món không thể thiếu trong các dịp lễ hội, các dịp tết, cưới hỏi, ma chay. Trong các dịp đó nếu thiếu đi chè thì bản sắc văn hóa của đất nước có hơn 4000 năm lịch sử cũng bị mất đi. Vì thế đối với các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thì cây chè được coi như là truyền thống của dân tộc [10].
Hiện nay chè là loại cây có giá trị xuất khẩu cao ngoài ra tại thị trường trong nước hiện nay cũng đòi hỏi về chất lượng cây chè ngày càng cao. Phát triển sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ giúp tăng thu nhập cho người nông dân tại một số vùng miền núi do cơ sở vật chất còn thiếu thốn, kỹ thuật thô sơ. Ngoài ra còn có tác dụng phủ xanh đồi trọc bảo vệ sinh thái môi trường. Lực lượng lao động dồi dào, nhân dân ta lại có kinh nghiệm khéo léo trong thu hoạch góp phần tạo được việc làm cho phần đông người lao động chưa có việc làm.
Do đó việc phát triển ngành chè trong những năm tới là rất khả thi. Một số vấn đề về hiệu quả kinh tế 1.1 Quan điểm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh sử dụng nguồn nhân lực, vật lực để đạt được hiệu quả cao nhất hay nói cách khác hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh chất lượng của một hoạt động kinh tế. Nâng cao chất lượng một hoạt động kinh tế là tăng cường lợi dụng các nguồn lực có sẵn c 7 trong một hoạt động kinh tế. đây đòi hỏi khách quan của một nền sản xuất xã hội, do nhu cầu vật chất ngày càng cao.
* Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế được xác định bằng công thức: Hiệu quả kinh tế = kết quả thu được – chi phí bỏ ra. (H) = (Q) - (C) Quan điểm này không còn phù hợp nữa, vì nếu cùng một kết quả sản xuất như nhau nhưng khác nhau về chi phi sản xuất sẽ khác nhau về hiệu quả. Không phản ánh đúng mục tiêu của người sản xuất là tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí. * Quan điểm thứ hai: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản xuất hoặc tổng sản phẩm quốc dân, hiệu quả cao khi nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu đó cao và hiệu quả kinh tế có nghĩa là không lãng phí.
Một nền kinh tế là có hiệu quả khi nó nằm trên giới hạn năng lực sản xuất đặc trưng bằng chỉ tiêu sản lượng tiềm năng của kinh tế, sự chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng thực tế (sản lượng cao nhất có thể đạt được trong điều kiện toàn dụng công nhân) và sản lượng thực tế là sản lượng tiềm năng mà xã hội không dùng được phần bị lãng phí. * Quan điểm thứ ba: Hiệu quả kinh tế là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng là đại diện cho mức sống nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nền sản xuất xã hội. * Quan điểm thứ tư: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản xuất kinh doanh về chỉ tiêu tổng hợp cụ thể nào đó. c 8 * Quan điểm thứ năm: hiệu quả của một quá trình nào đó, theo định nghĩa chung là mỗi quan hệ tỷ lệ giữa hiệu quả (theo mục đích) với các chi phí sử dụng (nguồn lực) để đạt được kết quả đó.
Tóm lại: Từ các quan điểm trên chúng tôi thấy rằng. Hiệu quả kinh tế là thể hiện hiệu quả so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí nguồn lực bỏ ra. Khi kết quả đạt được chỉ bằng chi phí bỏ ra là lãng phí nguồn lực, khi sử dụng tiết kiệm một nguồn lực để đạt một kết quả nhất định là hiệu quả kinh tế cũng khác nhau vẫn phải dựa trên nguyên tắc so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí nguồn lực bỏ ra.2 Khái niệm của hiệu quả kinh tế - Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế, chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình tăng cường khai thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người, tự nhiên để phục vụ cho lợi ích của con người. Xuất phát từ các góc độ xem xét, các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế.
Theo Kar Marx, hiệu quả là việc“tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và hiệu quả cũng lã quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động"". Kar Marx cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là sơ sở tiết kiệm của hết thảy mọi xã hội" Theo David Begg (1992), “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa này mà không cắt giảm một loại hàng hóa khác"vàông còn khẳng định “Hiệu quả nghĩa là không lãng phí”.Các quan điểm này đúng trong nền kinh tế thị trường ở các nước phát triển nhưng khó xác định vì chưa đề cập đến chi phí để tạo ra sản phẩm, nhất là ở các nước đang phát triển hay chậm phát triển. Theo Nguyễn Như Ý (1999), “Hiệu quả được hiểu như một hiệu số c 9 giữa kết quả với chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa" Các nhà kinh tế học thị trường như Samuelson, Nordhaus cho rằng “Hiệu quả là một tình trạng mà trong đó các nguồn lực của xã hội được sử dụng hết để mang lại sự thỏa mãn tối đa cho người tiêu dùng"và “Hiệu quả kinh tế xảy ra khi không thể tăng thêm mức độ thỏa mãn của người này mà không làm phương hại cho người khác". Quan điểm này ưu việt hơn trong đánh giá hiệu quả đầu tư theo chiều sâu, hoặc hiệu quả của việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật.
Hiện nay, theo quan điểm mới, hiệu quả kinh tế (EE) gồm hai bộ phận là hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả phân bổ (AE). Theo Colman và Young (1994), hiệu quả kỹ thuật được định nghĩa là khả năng của người sản xuất có thể sản xuất mức đầu ra tối đa với một tập hợp các đầu vào và công nghệ cho trước. Cần phân biệt hiệu quả kỹ thuật với thay đổi công nghệ. Sự thay đổi công nghệ làm dịch chuyển hàm sản xuất (dịch chuyển lên trên) hay dịch chuyển đường đồng lượng xuống phía dưới.
Hiệu quả kỹ thuật được đo bằng số lượng sản phẩm có thể đạt được trên chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể áp dụng kỹ thuật hay công nghệ. Hiệu quả kỹ thuật thường được phản ánh và biểu hiện trong mối quan hệ giữa các yếu tố trong hàm sản xuất và liên quan đến phương diện sản xuất vật chất. Nó phản ánh mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra, giữa các yếu tố đầu ra với nhau và giữa các sản phẩm khi nhà sản xuất quyết định sản xuất. Vì thế, nó được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào cụ thể.
Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị chi phí nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm.