MỞ ĐẦU Sốt rét (SR) là bệnh truyền nhiễm với sức khoẻ cộng đồng ở nhiều nƣớc trên thế giới và Việt Nam, bệnh gây ra bởi ký sinh trùng thuộc giống Plasmodium, qua trung gian truyền bệnh là các loài muỗi thuộc giống Anopheles (An. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về SR năm 2015, ƣớc tính có khoảng 212 triệu trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét; có 429,000 ngƣời tử vong do sốt rét trên toàn cầu [50] Cho đến hiện nay, bệnh sốt rét chƣa có vắc xin phòng bệnh, do đó phòng chống véc tơ là một phần quan trọng trong chiến lƣợc phòng chống SR toàn cầu của (WHO) với mục tiêu chính là cắt đứt sự lan truyền ký sinh trùng SR. Biện pháp phun tồn lƣu và tẩm màn với hóa chất diệt côn trùng là hai biện pháp chính sử dụng trong Chƣơng trình Quốc gia phòng chống và loại trừ SR tại Việt Nam. Hai biện pháp này có hiệu quả trong phòng chống sốt rét (PCSR) cho cộng đồng ngƣời sinh sống ở khu vực dân cƣ (thôn, bản.) tuy nhiên hai biện pháp này không bảo vệ đƣợc con ngƣời trong thời gian trƣớc khi ngủ và sáng sớm, khi ở ngoài màn.
Biện pháp xua muỗi bảo vệ cá nhân đóng vai trò quan trọng trong ức chế hút máu của muỗi cũng nhƣ hạn chế muỗi tiếp xúc với ngƣời của véc tơ sốt rét. Hiện có một số công cụ bảo vệ cá nhân phổ biến nhƣ bình xịt, kem xoa xua muỗi, hƣơng xua… nhƣng mỗi loại sản phẩm đều có những ƣu điểm và hạn chế riêng về hiệu lực và cách thức sử dụng. Biện pháp xua muỗi bảo vệ cá nhân làm giảm nguy cơ truyền bệnh bằng việc hạn chế tiếp xúc giữa muỗi và ngƣời đóng vai trò quan trọng trong công cuộc loại trừ sốt rét tại Việt Nam. Một số nghiên cứu dùng nến xua diệt muỗi trên thế giới với hoạt chất Transfluthrin cho hiệu quả xua muỗi tốt, nhƣ nghiên cứu của Gunter và cộng sự (cs) [35-37] và đặc biệt nghiên cứu tại Malaysia với nến chứa Transfluthrin 4% cho hiệu quả xua đƣợc 94% muỗi Culex (Cx.
Ở Việt Nam ngƣời ta cũng sử dụng nến thay thế đèn khi mất điện, một số vùng sâu vùng xa đặc biệt là ở những nhà không có điện có thể sử dụng nến để thắp sáng và nếu trong 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nến có chất xua thì đồng thời có hai tác dụng thắp sáng và xua muỗi. Mặt khác có thể sử dụng nến xua thay thế hƣơng xua vì một số nơi không thích dùng hƣơng xua do tín ngƣỡng và một số vùng thuộc Tây Nguyên có nhiều ngƣời theo đạo tin lành có thói quen sử dụng nến. Muỗi Anopheles epiroticus là một trong ba véc tơ chính truyền Sốt rét (SR) chủ yếu ở Việt Nam. Muỗi Anopheles epiroticus phân bố vùng ven biển nƣớc lợ, mật độ cao ở vùng nuôi tôm, loài muỗi này phát triển quanh năm, sử dụng hóa chất diệt để phòng chống gặp khó khăn do muỗi đã kháng với một số hóa chất diệt côn trùng, ngoài ra ở vùng này muỗi Culex vishnui là véc tơ truyền bệnh Viêm não Nhật Bản (VNNB) cũng là loài chiếm ƣu thế.
Để góp phần tìm biện pháp phòng chống muỗi đốt phù hợp cho khu vực này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu lực của nến xua với mu i Anopheles epiroticus và Culex vishnui trong phòng thí nghiệm và thực địa tại xã An Thới Đông huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh” với các mục tiêu: 1. Đánh giá hiệu lực diệt muỗi Anopheles epiroticus của nến Insecticandel và tác dụng không mong muốn với ngƣời trực tiếp tham gia thử nghiệm trong phòng thí nghiệm. Đánh giá hiệu lực xua muỗi Anopheles epiroticus và Culex vishnui của nến xua Insecticandel và tác dụng không mong muốn, sự chấp nhận của cộng đồng tại thôn An Đông, xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ, TPHCM. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Sơ bộ về muỗi An. epiroticus và Cx. vishnui và các biện pháp phòng chống muỗi trên thế giới 1. Muỗi Anopheles epiroticus và Culex vishnui An.
epiroticus là tên đồng vật do Linton và Harbach công bố năm 2005. Trƣớc đây vẫn đƣợc coi là véc tơ SR chính với tên gọi An. sundaicus, vùng phân bố của chúng tại khu vực Đông Nam Á. Loài này là véc tơ truyền SR chính ở vùng nƣớc lợ ven biển, Nam Việt Nam, Căm Pu Chia, Thái Lan và phía đông bán đảo Malaysia, chúng đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và cũng có nhiều công trình công bố trên nhiều khía cạnh từ phân loại, phân bố, sinh học, sinh thái học, vai trò truyền bệnh, phòng chống… [24, 25].
vishnui Theobald, 1901 là một trong 3 loài thuộc phân nhóm Cx. vishnui là véc tơ quan trọng truyền bệnh Viêm não Nhật Bản (VNNB) [43]. Loài muỗi này cũng là véc tơ truyền bệnh VNNB quan trọng ở Đài Loan, Malaysia, Ấn Độ, Đông Timor [33] và Việt Nam [18]. Muỗi trƣởng thành thích hút máu động vật và thƣờng gặp ở chuồng lợn.
Viêm não Nhật Bản (VNNB) là bệnh truyền nhiễm sang ngƣời từ động vật do Flavivirus gây ra. Trong tự nhiên, vi rút đƣợc duy trì và lây truyền qua chu trình muỗi, chim và động vật. Lợn đƣợc coi là động vật cảm nhiễm cao nhất. Sau khi xâm nhập vào máu, vi rút sinh sản nhanh chóng, mật độ vi rút trong cơ thể lợn rất cao, do đó có khả năng truyền sang cho ngƣời và các động vật qua muỗi, kết quả có thể gây thành dịch (Chu và Joo, 1993) [26].
Sự hiện diện của véc tơ truyền bệnh VNNB, cùng với chăn nuôi lợn là yếu tố quan trọng trong chu trình truyền bệnh VNNB. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các biện pháp phòng chống véc tơ Các biện pháp phòng chống véc tơ đƣợc áp dụng nhằm diệt muỗi hoặc bọ gậy làm giảm mật độ muỗi, hoặc xua muỗi, ngăn cản muỗi tiếp xúc với ngƣời để đạt đƣợc mục tiêu cuối cùng là hạn chế khả năng truyền bệnh của véc tơ. Các biện pháp phòng chống véc tơ đƣợc xây dựng dựa trên những hiểu biết về đặc điểm sinh học, sinh thái học véc tơ (thành phần loài, phân bố, khả năng truyền bệnh, mùa sinh sản và phát triển, tập tính đốt mồi…) Từ khi phát hiện muỗi có thể truyền một số bệnh nguy hiểm các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu các biện pháp phòng chống.
Những biện pháp mới đƣợc cải tiến và hoàn thiện, hiệu quả ngày càng cao. Mỗi biện pháp đều có những ƣu, nhƣợc điểm riêng và đƣợc áp dụng sao cho phù hợp với mỗi vùng. Có thể phân loại các biện pháp phòng chống thành 3 nhóm theo cách sử dụng là: Biện pháp vật lý - môi trƣờng, biện pháp sinh học và biện pháp hoá học. Các biện pháp vật lý và môi trường Các biện pháp vật lý có từ cổ xƣa khá đơn giản nhằm để xua, diệt, ngăn muỗi tiếp xúc đốt ngƣời dƣới các hình thức cơ học nhƣ đập, xua bằng cành lá, hun khói, đóng kín cửa, mặc quần áo dài… Các biện pháp mới hơn nhƣ lƣới chống muỗi cho cửa nhà ở hoặc nằm màn tránh muỗi đốt.
Trong những năm gần đây là vợt tích điện, bẫy đèn. Các biện pháp cải tạo môi trƣờng nhƣ phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh, đổ dầu, thả hạt xốp, bèo che mặt nƣớc cũng đƣợc sử dụng phổ biến [24]. Vinod (1991) đã nghiên cứu việc quản lý môi trƣờng trong phòng chống véc tơ An. culicifacies và An.
stephensi ở Ấn Độ [45], Gorgas đã thành công trong việc sử dụng những biện pháp quản lý môi trƣờng để làm giảm đi bệnh SR cho công nhân trên kênh đào Panama. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các biện pháp sinh học Có thể kể đến nhƣ thả cá ăn bọ gậy hoặc cá ăn rong, cỏ phá ổ đẻ của muỗi, nơi trú ẩn của bọ gậy, sử dụng muỗi biến đổi gen… Năm 2014, Griffin tiến hành nghiên cứu đánh giá sự ăn thịt của 4 loài cá Pseudomugil signifier, Hyseleotris galii, Pseudogobius sp. và Gambusia holbrooki dùng trong phòng chống bọ gậy Aedes vigilax.
Cả 4 loài tiêu thụ số lƣợng lớn bọ gậy cả tuổi 2 và tuổi 4. Tất cả các loài cho khả năng tiêu thụ bọ gậy là nhƣ nhau trong giờ đầu tiên ở các thí nghiệm, trƣớc khi giảm xuống tới một tỷ lệ ăn không đổi. Cá Gambusia holbrooki tỏ ra có tỷ lệ ăn bọ gậy cao nhất nhƣng không phù hợp để phòng chống muỗi do là sinh vật ngoại lai ở Australia. 3 loài cá bản địa Pseudomugil signifier cho thấy tiềm năng lớn nhƣ là một tác nhân phòng chống muỗi, có tỷ lệ tiêu thụ bọ gậy có thể so sánh với cá Gambusia holbrooki và ở những loài này tỷ lệ tiêu thụ bọ gậy vào ban đêm không giảm mạnh [29].
Các biện pháp hoá học Biện pháp hóa học đƣợc sử dụng hiệu quả trong phòng chống véc tơ bao gồm các biện pháp phun tồn lƣu, tẩm màn bằng hóa chất, phun không gian. Ngoài ra cũng có một số nghiên cứu biện pháp bảo vệ cá nhân nhƣ: Tẩm tấm đắp, tẩm võng, tẩm rèm bằng hóa chất diệt muỗi hoặc sử dụng chất xua côn trùng. Dƣới đây là một số biện pháp quan trọng để PCVT: - Biện pháp phun tồn lưu: Năm 2015, Haji và cộng sự nghiên cứu hiệu quả tồn lƣu của pirimiphos-methyl (Actellic 300CS) với chủng muỗi nhạy và kháng trên 5 loại tƣờng (tƣờng đất, tƣờng sơn dầu, tƣờng vôi, tƣờng gạch và tƣờng đá) ở Zanzibar. Kết quả thử nghiệm hiệu lực sinh học sau 24 giờ phun hoá chất cho thấy tất cả 5 loại tƣờng đều cho tỷ lệ muỗi chết 100%.
Hiệu quả tồn lƣu này đƣợc duy trì 8 tháng liên tiếp. Kết quả thử nghiệm sinh học sau 9 tháng phun hoá chất, tƣờng vôi, tƣờng đất, tƣờng gạch và tƣờng đá cho tỷ lệ muỗi chết ≤80%, chỉ có tƣờng sơn dầu cho tỷ lệ muỗi chết ≥ 97% [33]. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Biện pháp phun không gian: Phun không gian là một hoá chất dạng dung dịch đƣợc phát tán trong không khí dƣới dạng hàng trăm triệu hạt đƣờng kính nhỏ hơn 30µm. Nó chỉ hiệu quả khi những hạt hoá chất này đƣợc bay lơ lửng trong không khí.
Phun không gian đƣợc thực hiện chủ yếu nhƣ là phun mù nóng và phun mù lạnh. Hoá chất sử dụng trong phun không gian là những hoá chất thông thƣờng đƣợc sử dụng nhƣ fenitrothion, malathion, pirimiphos – methyl, cyfluthrin, cypermethrin, deltamethrin…[46]. Laura Harburguer và cs năm 2012 đã nghiên cứu so sánh hiệu lực phòng chống muỗi Ae. aegypti của phƣơng pháp phun mù nóng và mù lạnh sử dụng dầu và diesel làm dung môi .