Đặt vấn đề Đất nước ta đang trong thời kì phát triển tương đối mạnh về các ngành công nghiệp cũng như nông nghiệp. Cùng với sự phát triển của các ngành và của đất nước thì nhu cầu của người dân ngày càng cao, nhu cầu sử dụng nguồn nước sạch đảm bảo chất lượng của người dân ngày càng khắt khe hơn. Như chúng ta đã biết nước là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, con người, động, thực vật sẽ không tồn tại được khi thiếu nước. Vậy không có nước nghĩa là không có sự sống, con người có thể thiếu nguồn năng lượng để vận tải máy móc hay thiếu chỗ ở, thậm chí cả thức ăn nhưng không tồn tại được khi thiếu nước.
Sự có mặt của nước là điều kiện đầu tiên để xác định sự tồn tại của sự sống, ở đâu có nước thì ở đó có sự sống. đối với sự sống của con người, nước là nền tảng cho tất cả các hoạt động. Nước cho ta uống, tạo ra thực phẩm cho chúng ta ăn, tạo ra năng lượng hỗ trợ nền kinh tế hiện đại của chúng ta, duy trì các dịch vụ sinh thái và các yếu tố khác mà tất cả chúng ta đều phụ thuộc. Nhưng sau đó kèm theo sự phát triển của nền kinh tế của khoa học kỹ thuật được bắt đầu từ thời kỳ công nghiệp hóa cho tới nay sau những mặt lợi của nước thì còn xuất hiện những vô số hậu quả nghiêm trọng.
trong đó ô nhiễm nước là một vấn đề rất nghiêm trọng hiện nay, vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của sự hủy hoại môi trường tự nhiên, hủy hoại con người. đứng trước những khủng hoảng về nước đang diễn ra ngày càng trở lên cấp bách trên hành tinh mà chúng ta đang sống hiện tại là ở việt nam. Đứng trước những hoạt động phát triển ồ ạt của nền kinh tế và chưa được đồng bộ về mặt kỹ thuật và khâu xử lí đó là nguyên nhân dẫn đến nguồn nước của chúng ta bị suy thoái ngày càng trầm trọng. Hiện tại tài nguyên nước ở Việt Nam đang phải chịu tác động vô cùng lớn, đó là tình trạng ô nhiễm nguồn nước và sử dụng nguồn nước quá mức cho phép.TS Ngô Đình Tuấn, hiện nay đã có khoảng hơn 2 tỷ người thiếu nước.
Ở Việt Nam tuy đạt 9.430 m3/người/ năm nhưng 60% lượng nước n 2 là từ lãnh thổ bên ngoài từ các láng giềng khác chảy sang, bởi vậy chúng ta khó chủ đông mà khai thác sử dụng được nhưng sao đó chúng ta còn phải hứng chịu những tác động không mong muốn như ô nhiễm nước từ các nguồn nước từ láng giềng chảy vào. Gắn với lượng nước mưa 3.530 m3/người/năm theo tiêu chí của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam là một trong những quốc thiếu nước (nằm vào khoảng dưới 4. Và đây cũng là hậu quả của việc gia tăng dân số, phát triển kinh tế. công tác quản lý tài nguyên chua hợp lý.
Chính vì những nguyên nhân trên đã làm cho nguồn tài nguyên bị suy giảm trầm trọng về số lượng cũng như chất lượng. Phường Quang Trung là một phường thuộc thành phố Thái Nguyên, là phường có mật độ dân cư đông nhất trong thành phố do có nhiều trường đại học và trung học phổ thông đóng trên địa bàn. Trong những năm qua thì quá trình đô thị hóa đã tác động mạnh mẽ đến môi trường của phường như: không khí, đất, nước ở các mức độ khác nhau. Ngoài những nguyên nhân khách quan như vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên thì nguyên nhân chủ quan ở đây là sự gia tăng các hoạt động kinh tế - xã hội, dân cư, thiếu quy hoạch, thiếu sự quan tâm trong công tác quản lý môi trường của cơ quan quản lý cấp cơ sở.
Ví dụ: nhu cầu kinh doanh phòng trọ dành cho sinh viên còn thiếu quy hoạch trong các khâu xử lý còn xả thải chất thải chưa đúng quy trình… do đó cần phải đưa ra các biện pháp kịp thời để ngăn ngừa hạn chế và khắc phục giảm thiểu ô nhiễm môi trường đặc biệt là nguồn nước nhằm phát triển kinh tế -xã hội ngày càng bền vững. Xuất phát từ hiện trạng của việc sử dụng nước trong sinh hoạt của người dân tại phường Quang Trung - thành phố Thái Nguyên, để đánh giá được chất lượng của nguồn nước đang được sử dụng tại phường Quang Trung, được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Giảng viên - ThS. Nguyễn Thị Huệ, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu - Mục tiêu chính của đề tài là khảo sát được tình hình sử dụng nước cấp sinh hoạt tại phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá chất lượng nguồn nước, từ đó có những đề xuất cải thiện các giải pháp cấp nước sạch đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường cho người dân tại địa bàn phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên. Yêu cầu - Điều tra thu thập thông tin, phân tích để xác định các nguồn, yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt. - Số liệu phải trung thực khách quan.
- Kết quả phân tích các thông số về chất lượng nước phải chính xác. - Những kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của phường. Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường đưa vào thực tế. - Nâng cao hiểu biết về kiến thức thực tế.
- Tích lũy kinh nghiệm sau khi ra trường. - Bổ sung tư liệu học tập. Ý nghĩa thực tiễn - Phản ánh thực trạng về môi trường nước sinh hoạt tại phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên. - Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho tỉnh.
- Cảnh báo các vấn đề cấp bách và nguy cơ tiềm ẩn về ô nhiễm suy thoái môi trường nước. - Nâng cao chất lượng nước phục vụ cho người dân địa bàn. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số khái niệm về tài nguyên nước Tài nguyên nước là một dạng tài nguyên thiên nhiên đặc biệt, vừa vô hạn vừa hữu hạn và chính bản thân nước có thể đáp ứng cho các nhu cầu của cuộc sống ăn uống, sinh hoạt, hoạt động công nghiệp, năng lượng, nông nghiệp, giao thông vận tải thủy, du lịch [4].
Nước là nguồn tài nguyên rất quan trọng, là một trong những thành phần không thể thiếu của sự sống và môi trường.nếu không có nước thì sự sống trên trái đất không thể tồn tại và phất triển bền vững được. Nước có thể chia ra làm nhiều loại khác nhau như: nước mặn, nước ngọt, nước lợ… qua đó căn cứ vào mục đích sử dụng dưới góc độ luật môi trường, nguồn nước được hiểu là “một thành phần cơ bản của sự sống”. Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền và hải đảo: Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước. Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất.
Lượng giáng thủy này được thu hồi bởi các lưu vực, tổng lượng nước trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác. Các yếu tố này như khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nước và các hồ chứa nhân tạo, độ thấm của đất bên dưới các thể chứa nước này, các đặc điểm của dòng chảy mặn trong lưu vực, thời lượng giáng thủy và tốc độ bốc hơi địa phương. Tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến tỷ lệ mất nước. Các hoạt động của con người có thể tác động lớn hoặc đôi khi phá vỡ các yếu tố này.
Con người thường tăng khả năng trữ nước bằng cách xây dựng các bể chứa và giảm trữ nước bằng cách tháo khô các vùng đất ngập nước. Con người cũng làm tăng lưu lượng và vận tốc của dòng chảy mặt ở các khu vực lát đường và dẫn nước bằng các kênh. n 5 Tổng lượng nước tại một thời điểm là vấn đề cần quan tâm. Một số đối tượng sử dụng nước có nhu cầu nước theo vụ.
Ví dụ, trong mùa hè cần rất nhiều nước để phục vụ cho nông nghiệp hoặc phát điện nhưng trong mùa mưa thì không cần nước, vì vậy để cung cấp nước tốt cho mùa hè thì cần một hệ thống trữ nước trong suốt năm và xả nước trong một khoảng thời gian ngắn. Các đối tượng sử dụng nước khác có nhu cầu dùng nước thường xuyên như nhà máy điện cần nguồn nước để làm lạnh. Nước mặt tự nhiên có thể được tăng cường thông qua việc cung cấp từ các nguồn nước mặt khác bởi các kênh hoặc đường ống dẫn nước. Cũng có thể bổ cấp nhân tạo từ các nguồn khác được liêt kê ở đây, tuy nhiên, số lượng không đáng kể.
Con người có thể làm cho nguồn nước cạn kiệt Nước ngầm là nước nằm ở dưới bề mặt lớp đất và trong những tầng địa chất có thể thấm qua được, Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trong các lỗ rỗng của đất hoặc đá. Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngậm nước bên dưới mực nước ngầm. Đôi khi người ta còn phân biệt nước ngầm nông, nước ngầm sâu và nước chôn vùi. Nước ngầm cũng có những đặc điểm giống như nước mặt như: nguồn vào (bổ cấp), nguồn ra và chứa.
Sự khác biệt chủ yếu với nước mặt là do tốc độ luân chuyển chậm (dòng thấm rất chậm so với nước mặt), khả năng giữ nước ngầm nhìn chung lớn hơn nước mặt khi so sánh về lượng nước đầu vào. Sự khác biệt này làm cho con người sử dụng nó một cách vô tội vạ trong một thời gian dài mà không cần dự trữ. Đó là quan niệm sai lầm, khi mà nguồn nước khai thác vượt quá lượng bổ cấp sẽ là cạn kiệt tầng chứa nước và không thể phục hồi. Nước sinh hoạt là nước có thể dùng cho ăn, uống, phục vụ cho cuộc sống con người.
Nước sạch phục vụ cho đời sống con người cần đạt được những tiêu chí sau: - Nước trong không màu. - Không có mùi lạ, không có tạp chất. - Không chứa chất tan gây hại. n 6 - Không có vi khuẩn gây bệnh.