phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển nông - lâm nghiệp huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên. Đặc điểm cảnh quan - Đánh giá điều kiện tự nhiên cho phát triển nông - lâm nghiệp huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên. Định hƣớng sử dụng hợp lý lãnh thổ cho phát triển nông - lâm nghiệp huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG - LÂM NGHIỆP HUYỆN SƠN HÒA, TỈNH PHÚ YÊN 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 1. Điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên là nhân tố của môi trƣờng tự nhiên, không sử dụng trực tiếp làm nguồn năng lƣợng để tạo ra lƣơng thực, thực phẩm, các nguyên liệu cho công nghiệp nhƣng nếu không có sự tham gia của chúng thì không thể tiến hành sản xuất đƣợc, ví dụ vị trí địa lý, địa hình, khí hậu.
Tài nguyên thiên nhiên Theo D. Armand: “Tài nguyên thiên nhiên là các nhân tố tự nhiên được sử dụng vào phát triển kinh tế và làm phương tiện tồn tại của xã hội loài người. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Tài nguyên thiên nhiên là toàn bộ giá trị vật chất có trong tự nhiên mà ở một trình độ nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất chúng được sử dụng hoặc có thể sử dụng làm phương tiện sản xuất và đối tượng tiêu dùng” [30]. Hiện nay, cùng với sự phát triển của lực lƣợng sản xuất và những tiến bộ của xã hội, khái niệm TNTN ngày càng đƣợc mở rộng cả về nội hàm và phạm vi.
Đánh giá và đánh giá điều kiện tự nhiên 1. Đánh giá Đánh giá là hình thức so sánh đối chiếu một đối tƣợng nào đó với những tiêu chuẩn hay yêu cầu mục đích nhất định [7]. Đánh giá điều kiện tự nhiên Nói một cách đầy đủ là đánh giá tổng hợp ĐKTN. Đó là quá trình xem xét vai trò hay giá trị của tự nhiên đối với một yêu cầu KT - XH cụ thể.
Đánh giá sẽ thể hiện đƣợc tính chất của chủ thể đối với khách thể về phƣơng diện giá trị sử dụng, khả năng và kết quả sử dụng của khách thể. Trong đó chủ thể là yêu cầu KT - XH nhƣ các ngành kinh tế, các công trình kĩ thuật, nền kinh tế nói chung, bản thân của con ngƣời và xã hội, còn khách thể là môi trƣờng tự nhiên và TNTN. “Bản chất của việc đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là so sánh, đối chiếu các tính chất của môi trường tự nhiên và các nhân tố hợp phần của chúng với những đòi hỏi, những yêu cầu các mặt khác nhau của đời sống và các hoạt động kinh tế - xã hội của con người” [7]. Do đặc điểm của tự nhiên là đơn trị nhƣng giá trị KT-XH của nó là đa trị nên bất kỳ thành phần riêng biệt nào của tự nhiên cũng có thể là đối tƣợng đánh giá.
Song vì thành phần của tự nhiên luôn nằm trong mối quan hệ tác động tƣơng hỗ lẫn nhau nên cần thực hiện đánh giá tổng hợp. Vì thế, nhiệm vụ chính của đánh giá là điều khiển mối quan hệ này sao cho có hiệu quả cao nhất mà vẫn đảm bảo cân bằng sinh thái. “Việc xác định đối tượng đánh giá dựa trên mối quan hệ tác động tương hỗ giữa tự nhiên và kinh tế - xã hội, cũng chính là cơ sở khoa học quan trọng của công tác đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên. Đánh giá tổng hợp ĐKTN phục vụ phát triển nông lâm - nghiệp là cơ sở, là tiền đề cho các định hƣớng, đề xuất sử dụng nhằm góp phần phát triển nông lâm - nghiệp theo hƣớng bền vững.
Đề tài luận văn đánh giá ĐKTN huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên theo cách tiếp cận CQ, xem lãnh thổ huyện Sơn Hòa là một tổng hợp thể ĐLTN (CQ) mang tính cá thể trong hệ thống lãnh thổ tỉnh Phú Yên với sự phân hóa 8 tự nhiên đa dạng và tiềm năng to lớn cho sản xuất nông - lâm nghiệp, cần có sự xem xét, đánh giá để sử dụng và phát triển theo hƣớng bền vững. Cảnh quan và Cảnh quan học 1. Cảnh quan Cảnh quan đƣợc sử dụng và phát triển nhƣ là một khái niệm khoa học từ những năm cuối thế kỉ 19. Nghĩa của thuật ngữ CQ ban đầu chỉ là phong cảnh, bắt nguồn từ chữ “landshaft” của Đức.
Về sau đƣợc các nhà Địa lý Nga sử dụng trong các nghiên cứu phân vùng bề mặt Trái Đất. Hầu hết họ coi đó nhƣ là những bộ phận đƣợc hình thành từ những mối quan hệ hữu cơ trên bề mặt Trái Đất và cũng có thể tách rời trên bề mặt Trái Đất. Tiêu biểu nhƣ: V. Tuy nhiên, sự diễn đạt nội hàm khái niệm này có sự khác nhau: - Theo L.
9 Ở Việt Nam, tác giả Vũ Tự Lập cũng đã khái niệm: “Cảnh quan địa lý là một địa tổng thể được phân hoá trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật, bao gồm một tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất ” [15]. Hiện nay, CQ đƣợc hiểu theo 3 quan điểm chính: - Quan điểm coi cảnh quan là khái niệm chung, danh từ chung dùng để chỉ tất cả các tổng hợp thể tự nhiên ở một cấp bất kì hay ở một quy mô nào đó. Nó thể hiện sự đồng nhất tƣơng đối về một số hợp phần tự nhiên mà dựa vào đó ngƣời ta phân loại CQ. Đại diện cho quan điểm này là F.
- Quan điểm coi cảnh quan mang tính kiểu loại, cảnh quan là khái niệm đƣợc khái quát hóa để chỉ các tổng thể tự nhiên theo loại. Berg, Vũ Tự Lập. Các tác giả này cho rằng, các thể tổng hợp ĐLTN chứa đựng trong nó các tính chất chung và tính chất riêng biệt của tổ hợp các thành phần cấu tạo nên chúng. Nhờ vào việc nghiên cứu các đặc tính chung đó mà ngƣời ta có thể phát hiện các thể tổng hợp tự nhiên và phân loại chúng theo quy mô các cấp từ trên xuống hoặc từ dƣới lên nhƣ hệ cảnh quan - phụ hệ cảnh quan - kiểu cảnh quan - phụ kiểu cảnh quan - loại cảnh quan - hạng cảnh quan.
- Quan điểm coi cảnh quan là những cá thể địa lý, dùng để chỉ một bộ phận lãnh thổ riêng biệt trên bề mặt Trái Đất. Nói khác hơn, đó là một “phân khu” trên bề mặt đất, có phạm vi, giới hạn cụ thể về không gian và những đặc tính chung mang tính “riêng biệt”. Do vậy, CQ là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị ở cấp thấp nhất trong hệ thống phân vùng 10 ĐLTN, có nội dung xác định và chỉ tiêu rõ ràng, thể hiện mối quan hệ tƣơng hỗ chặt chẽ của các hợp phần tự nhiên trong một lãnh thổ nhất định. Ngƣời đầu tiên đề xƣớng quan điểm này là L.
Berg và sau đó là A. Xonlxev, Vũ Tự Lập. Tóm lại, dù CQ đƣợc khái niệm theo cách nào thì về bản chất CQ cũng là một tổng thể tự nhiên phức tạp, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận, sự khác biệt ở chỗ coi cảnh quan là đơn vị thuộc cấp phân vị nào. Phần lớn các học giả đều tán thành quan điểm của L.
Berg coi CQ là một trong những đơn vị cấp thấp của phân vùng ĐLTN. Cảnh quan học Hiểu theo nghĩa rộng, Cảnh quan học là khoa học chuyên nghiên cứu sâu các thể tổng hợp ĐLTN [36]; “Cảnh quan học là khoa học nghiên cứu các mối tác động tương hỗ giữa các hợp phần cấu trúc, các quy luật phân hóa để ứng dụng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội” [8]. Hiện nay, Cảnh quan học là một bộ môn khoa học phát triển nhanh chóng, trở thành một ngành quan trọng của Địa lý học hiện đại. Những kết quả nghiên cứu của nó đƣợc ứng dụng rộng rãi để giải quyết nhiều các vấn đề cấp bách của thực tiễn.
Sinh thái cảnh quan và đánh giá sinh thái cảnh quan 1. Sinh thái cảnh quan “Sinh thái cảnh quan là một hệ thống tự nhiên được cấu thành từ hai khối hữu sinh và vô sinh trong điều kiện cân bằng sinh thái của tự nhiên, được quy định bởi mối tương quan trao đổi vật chất, năng lượng, thông tin và những đặc trưng biến đổi trạng thái (động lực) theo thời gian” [38]. Nhƣ vậy, sinh thái cảnh quan (STCQ) vừa có cấu trúc của CQ vừa có chức năng sinh thái của hệ sinh thái đang tồn tại và phát triển trên CQ, nó chứa đựng hai khía cạnh cơ bản là CQ và hệ sinh thái. Hai khía cạnh này vừa 11 độc lập nhƣng vừa thống nhất với nhau trong một hệ địa - sinh thái (Geo- ecosystem).
Mô hình địa - hệ sinh thái [38] 1. Hƣớng tác động qua lại các thành phần cảnh quan 2. Hƣớng tác động qua lại của hệ sinh thái trong hệ địa sinh thái 3. SV: Sinh vật ĐH: Địa hình TV : Thuỷ văn KH: Khí hậu TN: Thổ nhƣỡng ĐM: Đá mẹ 1.
Đánh giá sinh thái cảnh quan Trong xu thế phát triển của Địa lý học hiện đại, để đề xuất SDHL lãnh thổ, nhất là cho phát triển nông - lâm nghiệp, nghiên cứu CQ và STCQ là cách tiếp cận đúng đắn, quan trọng để xem xét qúa trình tác động đến tự nhiên và hiệu quả về mặt KT - XH - MT. Do vậy, đề tài luận văn đã tiếp cận đánh giá ĐKTN theo hƣớng đánh giá STCQ mà chúng ta hay gọi tắt là CQ. Đánh giá cảnh quan (ĐGCQ) là đánh giá tổng hợp ĐKTN lãnh thổ nghiên cứu cho mục đích thực tiễn. ĐGCQ là một nhiệm vụ trong nghiên cứu địa lý ứng dụng, có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động phát triển kinh tế, giúp các nhà quản lý, quy hoạch đƣa ra quyết sách phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể.
ĐGCQ chính là bƣớc trung gian giữa nghiên cứu cơ bản và quy hoạch SDHL tài nguyên và BVMT [38].