Chương 1 Chủ trƣơng của Đảng bộ Hà Nội về công tác phòng không nhân dân năm 1972 Chương 2: Qúa trình Đảng bộ Hà Nội chỉ đạo công tác phòng không nhân dân năm 1972 Chương 3: Nhận xét và một số bài học kinh nghiệm 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG BỘ HÀ NỘI VỀ CÔNG TÁC PHÒNG KHÔNG NHÂN DÂN 1. Những yếu tố tác động 1. Lý do đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai Chiến lược ―Việt Nam hoá chiến tranh‖ của Mỹ có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Ngay sau khi trúng cử Tổng thống Hoa Kỳ, R.Nixon quyết định thay đổi chiến lƣợc và cách điều hành chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.
Ông chủ mới của Nhà Trắng đã đề ra chiến lƣợc toàn cầu mới mang tên ―Học thuyết Nixon‖, Ứng dụng học thuyết Nixon vào Việt Nam, chính quyền Mỹ điều chỉnh chủ trƣơng ―Phi Mỹ hóa chiến tranh‖ thời L Johnson thành chiến lƣợc ―Việt Nam hóa chiến tranh‖.Cùng với ―Việt Nam hóa chiến tranh‖ ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ duy trì các hoạt động khiêu khích phá hoại miền Bắc, đánh phá đƣờng mòn Hồ Chí Minh, ngăn tiếp tế, chi viện của miền Bắc cho miền Nam, tăng cƣờng chiến tranh sang Lào nhằm phá vỡ chỗ đứng chân và cơ sở hậu cần của cách mạng Việt Nam. Ráo riết chuẩn bị mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dƣơng. Hiểu rõ âm mƣu của địch, kiên quyết giữ vững đƣờng lối độc lập tự chủ, Hội nghị BCT lần thứ 20 (1-1972) đã đề ra nhiệm vụ và quyết tâm cho quân và dân cả nƣớc là phải:―Đánh bại chiến lƣợc ―Việt Nam hóa chiến tranh‖ của Mỹ, đánh bại học thuyết Níchxơn trên toàn chiến trƣờng Đông Dƣơng, tạo ra một chuyển biến căn bản làm thay đổi cục diện chiến tranh ở miền Nam và trên cả bán đảo Đông Dƣơng, giành thắng lợi to lớn, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh trẽn thế thua bằng một giải pháp chính trị có lợi cho ta mà chúng có thể chấp nhận đƣợc; Đến giữa năm 1972, cuộc tiến công chiến lƣợc trên các hƣớng ở miền Nam của Quân giải phóng đã tạo ra một tình thế có nhiều thuận lợi cho cách mạng miền Nam. Lực lƣợng vũ trang miền Nam đã giành đƣợc thắng lợi to lớn về tiêu diệt địch và giải phóng đất đai.
Quân giải phóng đã phá vỡ các khu vực phòng ngự mạnh nhất của địch, chiếm và đứng vững trên các địa bàn cơ động vùng rừng núi, giáp ranh và một số vùng quan trọng ở đồng bằng, tạo ra một cục diện mới trên chiến trƣờng, làm thay đổi một phần quan trọng so sánh lực lƣợng, mở ra một tình thế cách mạng rất thuận lợi đẩy chiến lƣợc ―Việt Nam hoá chiến tranh‖ của Mỹ đến bờ vực sụp đổ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoàn toàn. Để cứu vãn tình thế, ngày 6/4/1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn huy động lực lƣợng lớn không quân và hải quân Mỹ ở khu vực Đông Nam Á tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc với quy mô lớn hơn, tính chất ác liệt, tàn bạo hơn nhiều so với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất Tình hình nước Mỹ và phong trào phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam Sau hơn 4 năm đƣa quân trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, chẳng những Mỹ không đánh bại đƣợc quyết tâm kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam mà ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn, tổn thất lớn, xung đột xã hội sâu sắc, uy tín giảm sút.Nixon nhậm chức. Đối diện với cuộc chiến tranh ở Việt Nam, R.Nixon thừa hƣởng di sản mà L Johnson để lại. Tuy không phải gánh vác trách nhiệm về chiến tranh Việt Nam nhƣ Tổng thống tiền nhiệm L.Johnson, song khi tiếp quản di sản để lại với sự sa lầy vô vọng, R.Nixon buộc phải đặt cao nhiệm vụ tìm lối thoát kết thúc cuộc chiến với ít thua thiệt nhất.
Từ bỏ Việt Nam đồng nghĩa với việc hủy hoại uy tín của nƣớc Mỹ và giống nhƣ L.Nixon có toan tính riêng: Không đƣợc phép trở thành vị tổng thống đầu tiên thua một cuộc chiến. Kết thúc chiến tranh nhƣ thể nào? Là một siêu cƣờng đứng đầu thế giới tƣ bản, luôn tự xƣng là ―ngƣời bảo vệ tự do‖ mà nay lại ―bỏ rơi‖ đồng minh, rút quân dể Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản thì sẽ là một thất bại khó chấp nhận đối với Mỹ. Nhƣ vậy, uy tín của Mỹ trƣớc các đồng minh và địa vị của Mỹ trên trƣờng quốc tế sẽ bị giảm sút nghiêm trọng. Vấn đề đặt ra cho Mỹ là làm thế nào rút quân khỏi Việt Nam nhƣng không bị mang tiếng là bại trận, nghĩa là cuộc chiến tranh này phải đƣợc họ kết thúc ―trong danh dự‖.
Hay nói cách khác là R.Nixon muốn hòa bình nhƣng phải ―hòa bình trong danh dự‖. Nhƣng lịch sử đã chứng minh, nếu R.Nixon thực sự muốn một giải pháp hòa bình, ông ta đã có cơ hội ngay khi nhậm chức Tổng thống nhiệm kì đẩu tiên. Cách thức thƣơng lƣợng hòa bình thời Nixon không khác thời Johnson là mấy, vẫn chỉ là thƣơng lƣợng hòa bình trên thế mạnh. Tức là trong khi đàm phán thì chính quyền Mỹ lại dùng các biện pháp quân sự ồ ạt nhằm thúc ép VNDCCH phải có những nhƣợng bộ nhất định.
Phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền của các tầng lóp xã hội - kể cả các nghị sĩ Quốc hội, các cựu binh Mỹ từng tham gia chiến tranh Việt 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. tiếp tục dâng cao ngay trên đất Mỹ. Tại diễn đàn Quốc hội, số nghị sĩ đã phản đối hành động chiến tranh của chính quyền Nixon ngày càng chiếm đa số. Các nghị sĩ tích cực vận động thông qua dự luật định thời hạn rút hết quân Mỹ khỏi Việt Nam, từ tháng 4 đến tháng 12-1972 đã đề ra 22 dự luật đòi rút hết quân Mỹ, đƣa tù binh trở về, chấm dứt chiến tranh và hạn chế quyền điều hành chiến tranh của Tổng thống.
Ngày 22-6-1972, Thƣợng viện biểu quyết dự luật của Menphin với số phiếu 57/42 đòi rút hết lực lƣợng Mỹ khỏi Đông Dƣơng trong thời hạn không quá 9 tháng miễn là tất cả tù binh đƣợc thả. Một tuần sau, Thƣợng viện lại biểu quyết dự luật của Bruckơ với 49/47 phiếu, quy định các chi phí quân sự đã đƣợc duyệt chỉ dùng vào việc rút quân về nƣớc với điều kiện tù binh Mỹ đƣợc thả. Rõ ràng, mối quan tâm hàng đầu của nƣớc Mỹ là vấn đề ngừng bắn đi cùng với việc giải thoát tù binh. Biểu quyết của đa số ở Thƣợng viện là sức ép mạnh mẽ đối với R.Nixon cho dù có thắng cử.
Báo chí và các gia đình có con em bị bắt làm tù binh trong chiến tranh Việt Nam tiếp tục lên tiếng chỉ trích R. Chính quyền Mỹ đứng trƣớc sức ép từ nhiều phía: thất bại quân sự ở Việt Nam, dƣ luận quốc tế phản đối cuộc chiến tranh và phong trào phản chiến trong nƣớc. Những cuộc bắt bớ, trấn áp ngƣời phản đối chiến tranh bằng dùi cui, lựu đạn cay xảy ra ở khắp noi, khiến giới cầm quyền phải lo ngại: ―Không thể quay lƣng với thực tế là cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á đang gây ra một cuộc nội chiến ngay trên đất Mỹ‖[66,tr.277] Tình hình thực tế buộc chính quyền Nixon nhanh chóng tìm giải pháp đi đến kí kết một hiệp định hòa bình, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lƣợc Việt Nam. Phong trào phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ ở nhiều nơi trên thế giới.
Ở Mỹ, phong trào phản chiến lên cao, nhiều cuộc biểu tình đã thu hút đến 20-30 triệu ngƣời tham gia.Những năm 1971-1972 việc không thi hành quân dịch tại Việt Nam trở thành vấn đề lớn đối với các chính trị gia, ứng cử viên của Mỹ. Nƣớc Mỹ bị phân hóa sâu sắc vì chiến tranh Việt Nam. Trƣớc các sức ép đó, tại Pari, trong 3 ngày 8,9,10/10/1972, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ tiến hành phiên họp kín thứ 19 và phái đoàn ta đƣa ra Dự thảo Hiệp định ―Về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam‖. Phía Mỹ đã chấp nhận bản Hiệp định này.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngày 12/10/1972 Ních-xơn và Kít-xinh-giơ đã tung tin lừa bịp dƣ luận rằng, ―hoà bình đã ở trong tầm tay‖[118,tr.51]―chiến tranh sắp vãn hồi‖ để lôi kéo tranh thủ cử tri Mỹ trong bầu cử. Từ ngày 23/10/1972, không quân Mỹ đã tập trung lực lƣợng đánh phá ác liệt các tuyến giao thông từ Nam Vĩ tuyến 20 trở vào. Ở miền Nam, Mỹ thúc ép quân đội Sài Gòn mở các cuộc phản kích hòng chiếm lại các vùng ta vừa giải phóng. Chúng còn ngang ngƣợc tiến hành các chuyến bay trinh sát ra phía Bắc vĩ tuyến 20 nhằm khẩn trƣơng chuẩn bị cho âm mƣu đen tối mới.
Mỹ muốn ta phải khuất phục và chấp nhận những điều kiện mà chúng đưa ra ở Hội nghị Pa-ri. Hội nghị Pari về Việt Nam là cuộc đấu tranh ngoại giao của nhân dân Việt Nam với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ở Thủ đô nƣớc Pháp bắt đầu từ ngày 13-5- 1968 và kết thúc vào ngày 27-1-1973. Việc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là việc phải xảy ra khi chẳng ai dứt điểm đƣợc ai bằng quân sự. Sau sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 các bên đã ngồi vào thƣơng lƣợng cho tƣơng lai chiến tranh Việt Nam.
Việc thƣơng lƣợng đã diễn ra rất phức tạp. Sau một thời gian họp đi, họp lại, Mỹ cố tình lật lọng, đòi ta phải sửa đổi những điều rất cơ bản trong Hiệp định nhƣng đều bị bác bỏ. Ngày 25 tháng 1 năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon đơn phƣơng công bố nội dung các cuộc gặp riêng về đề nghị Tám điểm đƣa ra ngày 16 tháng 8 năm 1971.Ngày 31 tháng 1 năm 1972, tại Paris, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công bố giải pháp Chín điểm, đồng thời vạch rõ việc Nhà trắng đã vi phạm thoả thuận hai bên không công bố nội dung các cuộc gặp riêng theo đề nghị của chính Kissinger. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng đã phân phát cho tất cả các tờ báo những công hàm trao đổi giữa hai bên về cuộc họp ngày 20 tháng 10 năm 1971.Ngày 24 tháng 3 năm 1972, Tổng thống Nixon tuyên bố hoãn vô thời hạn các phiên họp công khai Hội nghị Paris về Việt Nam.