CHƯƠNG 1: GIỚI THIEU Ngày nay, con người không chỉ quan tâm dinh dưỡng, mà còn quan tâm đến sức khỏe. Vì thế, những thực phẩm có thé giúp người tiêu dùng phòng tránh bệnh tật ngày càng được nhiều người quan tâm, trong đó phải kế đến nhóm thực phẩm giàu chất chống oxy hóa có nguồn gốc tự nhiên. Quả cóc cũng là loại quả có hàm lượng chất chồng oxy hóa khá cao, đặc biệt là hợp chất phenolic. Quả cóc là một loại quả trồng tự nhiên, ít sâu bệnh, ít được phun xit thuốc trừ sâu mà lại có hàm lượng dinh dưỡng cao.
Hiện tại quả cóc dùng để ăn tươi là chủ yếu, chưa có nhiều nghiên cứu nhiều về các hợp chất chồng oxy hóa trong quả cóc và chế biến thực phẩm giàu chất chống oxy hóa từ quả cóc. Trong công nghiệp chế biến nước trái cây, quá trình trích ly là một công đoạn quan trọng để giải phóng ra các thành phần dinh dưỡng từ tế bào quả như đường, khoáng chất, các vitamin (C và B), các acid amin, các hop chất phenolic và các hợp chất hòa tan khác. Cho đến nay có khá nhiều nghiên cứu trong và ngoải nước về việc ứng dụng của các chế phẩm enzyme trong sản xuất nước quả, trong đó có những nghiên cứu về của quá trình xử ly enzyme đến hàm lượng chất chống oxy hóa trong dich quả. Việc xử lý nguyên liệu bằng chế phẩm enzyme pectinase sẽ giúp phá vỡ thành tế bào quả, các thành phần polysaccharide có trong quả như pectin bị thủy phân, góp phần làm giảm độ nhớt, hỗ trợ trong việc làm trong, 6n định chất lượng dich quả, đồng thời giúp cho quá trình thoát dịch quả từ bên trong tế bảo ra bên ngoài được thực hiện dễ dàng và triệt để hơn (Bhat, 2000).
Trong một SỐ trường hợp, việc sử dụng chế phẩm enzyme pectinase còn làm tăng đáng kế hàm lượng phenolic tong và hoạt tính chồng oxy hóa trong dịch quả. Cho đến thời điểm nảy, chưa có công bố khoa học nảo trong nước cũng như trên thế giới về việc sử dụng chế phẩm pectinase để thu nhận dịch quả cóc giàu hợp chất chống oxy hóa. Do đó, trong nghiên cứu nảy, chúng tôi đề xuất sử dụng chế phẩm enzyme pectinase trong quy trình thu nhận dịch quả cóc dé làm tăng hoạt tính chống oxy hóa cho sản phâm. CHƯƠNG 2: TÔNG QUAN 2.
Tổng quan về quả cóc (Spondias Cytherea) 2. Nguôn gốc, phân loại Quả cóc có tên khoa học là Spondias Cytherea, tên đồng nghĩa là Spondias Dulcis Sol, thuộc họ đào lộn hột (Anacadiecea), giống Spondias. Cùng họ này còn có cây sau, cây xoài, cây đảo lộn hột và giâu giả xoan. Cây cóc có nguồn gốc từ Melanesia - Polynesia, sau đó được trồng tại các khu vực nhiệt đới như: Malaysia, Ấn Do, Tích Lan, Uc, Philippine (Ishak và cộng sự, 2005; Lim, 2012).
Theo nghiên cứu cua Campbell va Sauls (1994), phân loại tên khoa học của qua cóc như sau: Lớp: Rosidase Bộ: Sapinsales Họ: Anacardiacea Chi: Spondias Loai: Spondias Cytherea Qua cóc có chủ yêu ở vung nhiệt đới va cận nhiệt đới. Tùy thuộc vào điêu kiện dat trông, nguôn goc di truyền mà qua cóc có hình dạng, kích thước khác nhau. Dựa vào khả năng sử dụng mà quả cóc ở Việt Nam được phân loại như sau: Sơn cóc (hay giâu giả xoan) Allospondias lakonesis: Thuộc giâu giả xoan, phân bố ở Bắc Giang, Hà Nam, Phú Tho, Thanh Hóa, Quảng Trị, Huế. Cây cho gỗ, quả dé ăn.
Xuyên cóc Choerospondias axillaris: Thuộc chỉ xoan nhừ, cóc rừng là cây lay gỗ lớn, mọc hoang hoặc được trồng ở rừng núi Sapa, Bảo Lộc, Nghệ Tĩnh. Quả dùng để ăn, làm men rượu. vỏ hạt làm than hoạt tính. Coc rừng Spondias pinnata Kurz hay S.
mangifera Willd: Thuộc chi cóc, mọc ở các tỉnh duyên hai Nam trung Việt, Da Lat, Vinh, Đồng Nai, trái to bang trứng gà, chứa 2- 3 hột cứng (Võ Van Chi, 1978). Y Cóc miền Bac (Spondias tonkinensis): Thuộc chỉ cóc mọc hoang ở rừng Lạng Son. Y Long cóc (Dracontomelum duperreanum): Thuộc chi sâu là loài cóc Việt Nam, cây cao lớn cho gỗ. Trái cỡ 2 em được ăn tươi hay nấu canh chua, được tìm thay rải rác trong các rừng có độ cao 200 - 600 m ở Lạng Sơn, Bắc Thái, Lâm Đồng.
Loài này được trồng dùng làm cây tái tạo rừng (Võ Văn Chi, 1978). Đặc tính thực vật Cây: thuộc loại thân gỗ, cây lớn nhanh trong thời gian đầu, cao 10 - 25 m, có thể cao đến 45 m, thân cây thang đứng, vỏ cây màu xám đến nâu sáng. đường kính thân cây 45 cm, tán cây rộng. cảnh lá ít nhưng dài, cảnh nhỏ, gỗ giòn dễ bẻ.
Lá: lá thuộc loại lá kép lông chim lẻ, mỗi lá dài 20 - 60 cm, số phiến lá từ 9 - 25, hình bầu dục hoặc hình trứng dài 6,25 - 10 cm, ria lá răng cưa hướng về đỉnh lá. Lá chủ yếu tập trung ở đầu cành nên cây rất thoáng. Vào mùa khô, lạnh (tháng 11-12) lá chuyền sang màu vàng sáng và rụng dan, lúc này cây chỉ còn tro những cành màu nâu xám nhạt, kéo dài trong vài tuần trước khi xuất hiện những chùm hoa nhỏ màu trắng cùng với lá non ở đầu cành (Campbell và Sauls, 1994; Lim, 2012). Hoa: hoa cóc nhỏ, mau trắng hơi xanh có 10 nhị, 5 vòi nhụy, mọc thành từng chùm lớn ở dau cành, chiều dài mỗi chùm hoa có thể lên tới 25 — 40 em.
Trong chùm hoa có cả hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính. Cây cho ra hoa đồng loạt từ tháng 1 đến tháng 3 cùng với lá non. Quả: thuộc loại quả hạch, vỏ quả mềm nhưng dai, thịt quả nạc được bao bọc bởi một lớp xơ, vỏ hạt hóa gỗ bao lấy 5 tử diệp. Quả có hình bầu dục hay hình trứng chứa nhiều nước.
Kích cỡ và khối lượng quả không đồng đều thường dài từ 6 — 10 cm, đường kính 4 — 8 em. Khi chưa chín, qua màu xanh có những đốm nhỏ li ti màu nâu, thịt quả có màu trang đến trắng xanh phot vàng. Vị chua đến chua nhẹ, trạng thái giòn, độ chua phụ thuộc vào độ chin của quả. Qua mọc thành chùm từ 2 — 12 quả, thong xuống.
Hạch khá lớn hình bầu dục có nhiều gai dạng sợi dính chặt với thịt, có 5 - 6 ô cách nhau không đều (Campbell va Sauls, 1994; Lim, 2012). Cau tao quả cóc } 2 Hình 2.2: Cau tao quả cóc Thành phần: Lớp vỏ: 20 % Thịt quả: 60 % Hột: 20 % 2. Giá trị của cây cóc VỀ mặt giá tri kinh tẾ, cây cóc là cây it tốn kém về giống. phân bón, điều kiện chăm sóc, phòng chống sâu bệnh.
Cây sinh trưởng nhanh và cho trái sau 2 - 4 năm, tuổi thọ cây lớn (hơn 10 năm), càng về sau cây cho năng suất cao và chất lượng tốt. Quả cóc có thé dùng ăn tươi, hay chế biến thành sản phẩm thực phẩm khác. Về mặt giá trị thực phẩm, quả cóc có nhiều vitamin C và khoáng chất nên cóc thực sự có gia tri về mặt dinh dưỡng, thêm vào đó tỉ lệ đường /acid trong thịt cóc chín hài hòa nên có vi chua ngọt dê chịu và kích thích tiêu hóa. Về mặt giá trị sử dụng, quả cóc có thể dùng ăn tươi hoặc chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau: mứt (jam, jelly.), nước quả hoặc say khô.
Một số sản phẩm từ quả xanh như salads “rujak” hoặc quả dầm (sambal) được bán ở các siêu thị châu Au. Ở Việt Nam, món gỏi cóc thực sự được yêu thích và có mặt trong thực don của các nhà hàng. Lá cóc non có vi chua có thé ăn được như một loại rau, hoặc làm thức ăn cho gia súc. Nhựa cây có thé được dùng làm thuốc nhuộm.
Về mặt giá trị dược phẩm, vỏ cây cóc kết hợp với vỏ cây chiêu liêu nghệ trị bệnh tiêu chảy. Quả cóc là phương thuốc hữu dụng làm sinh tân dịch, kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng, giải khát và giải nhiệt. Ngoài ra theo một số tài liệu khác, nhiều nơi trên thế giới đã sử dụng quả, lá, vỏ cây dé xử lý vết bam, viêm nhiễm và vết bỏng (Ayoka và cộng sự, 2006). Tuy nhiên những nghiên cứu chi tiệt và có hệ thông về van đề này thì chưa được tiên hành phô biên ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài.1: Giá trị sử dung va được tính cua qua cóc (Ayoka và cộng sự, 2008) Bộ phận Giá trị sử dụng Hàng rào sống cho dat nông nghiệp, cho sô lượng gỗ thấp, l Thân cây , nhung dung lam tac pham cho cac nghé nhan - Dùng làm bút chì, vỏ bọc nội that của ngôi nhà, thuyền và thay 2 Go mộc , thê cho nút chai, sử dụng làm nhiên liệu ở Costa Rica (Brazil) 3 Gỗ Ashes | Tại châu Phi: được sử dụng để nhuộm chàm Dùng để khắc: bùa hộ mệnh, tượng nhỏ, trang trí những đôi 4 Vỏ cây tượng khác nhau và làm tác nhân nhuộm 5 Nhựa Dùng làm keo 6 Lá Lá non dùng để nâu như rau xanh Ngâm đường, trái cay ướp lạnh và thạch ở Costa Rica (Brazil).
7 Trái Sử dụng làm mứt ở Panama, Peru và Mexico. Sản xuất rượu vang ở Guatemala và Mexico. 8 Hoa Dùng để trang trí Bộ phận Giá trị được phẩm 9 Rễ Làm thuộc rửa, thuốc tay Điêu trị bệnh tiêu chảy, kiết li, trĩ và bệnh lậu. O Mexico được 10 Vo sử dung để trục xuất vôi hóa từ bàng quang, làm bột chữa lành vết thương II Nhựa Làm thuộc long dom và loại bỏ san dây Lá và hoa làm trà sẽ giúp giảm đau dạ dày, buôn nôn, viêm ; nhiễm.
Sac của lá non trị bệnh tiêu chảy và kiết li. Nước ép Š a nghiền từ lá hoặc bột dùng dé chữa lành vết thương, chống viêm nhiễm. 13 Trai Nước thanh mat và giải nhiệt l4 H Lá và hoa trà giúp giảm đau dạ dày, viêm niệu đạo, viêm bàng oa quang va viém co hong. Tình hình trong quả cóc ở Việt Nam và trên thé giới Quả cóc là một trái cây nhiệt đới, đang được nghiên cứu trồng tại Florida (Hoa Kỳ) và hi vọng trong thời gian sắp tới quả cóc sẽ được cung cấp dôi dào tại những nơi tập trung của cộng đồng Việt Nam.
Cây cóc được xem là có nguồn gốc tai vùng Melanesia — Polynesia va sau đó được trồng tại các vùng nhiệt đới của cả thế giới. Cây khá phố biến tại Malaysia (cây trồng trong vườn), An Độ. Quả cóc được bán khắp các chợ Việt Nam. Cây gia nhập Philippines từ 1915, sau đó trồng tại Queensland (Úc).
Cây được đưa đến Jamaica vào 1782, và mười năm sau Thuyén trưởng Bligh đã đưa thêm vào đây một giống cóc khác, gốc từ Hawaii. Cây cóc cũng được trồng tại Cuba, Haiti, Cộng hòa Dominican, nhiều nước Trung Mỹ.