Luận văn thạc sĩ: Chuyển giao hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích chuyển giao hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy định và thực tiễn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2017

84
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN GIAO HỢP ĐỒNG

0.1.1. Khái niệm hợp đồng và các quan hệ phát sinh từ hợp đồng

0.1.2. Khái niệm hợp đồng. Các quan hệ phát sinh từ hợp đồng

0.1.3. Chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ, thực hiện công việc thông qua người thứ ba

0.1.3.1. Chuyển giao quyền yêu cầu
0.1.3.2. Chuyển giao nghĩa vụ
0.1.3.3. Thực hiện công việc thông qua người thứ ba

0.1.4. Chuyển giao hợp đồng theo pháp luật chuyên ngành Việt Nam

1. CHUYỂN GIAO HỢP ĐỒNG THEO QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

1.1. Khái niệm chuyển giao hợp đồng. Bản chất pháp lý của chuyển giao hợp đồng

1.2. Đối tượng của chuyển giao hợp đồng

1.3. Chuyển giao hợp đồng theo quy định pháp luật

1.4. Chuyển giao hợp đồng theo thỏa thuận

1.5. Hình thức chuyển giao hợp đồng

1.6. Điều kiện có hiệu lực của chuyển giao hợp đồng

1.7. Những trường hợp không được chuyển giao hợp đồng

1.8. Thời điểm phát sinh hiệu lực của chuyển giao hợp đồng

1.9. Hệ quả pháp lý của chuyển giao hợp đồng

1.10. Phác thảo các điều luật quy định chuyển giao hợp đồng trong BLDS 2015

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về chuyển giao hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam

Chuyển giao hợp đồng là một khái niệm quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam. Nó không chỉ liên quan đến việc chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ giữa các bên mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định của các giao dịch dân sự. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, chuyển giao hợp đồng được quy định rõ ràng, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần được làm rõ và điều chỉnh. Việc nghiên cứu về chuyển giao hợp đồng giúp hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý hiện hành và thực tiễn áp dụng trong xã hội.

1.1. Khái niệm và vai trò của hợp đồng trong pháp luật dân sự

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ. Hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia. Việc hiểu rõ khái niệm hợp đồng giúp xác định rõ hơn về chuyển giao hợp đồng.

1.2. Các loại hợp đồng và sự cần thiết của chuyển giao hợp đồng

Có nhiều loại hợp đồng khác nhau như hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê mướn, hợp đồng dịch vụ. Mỗi loại hợp đồng có những đặc điểm riêng và yêu cầu về chuyển giao cũng khác nhau. Sự cần thiết của chuyển giao hợp đồng xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong giao dịch dân sự.

II. Vấn đề và thách thức trong chuyển giao hợp đồng tại Việt Nam

Mặc dù pháp luật đã có những quy định về chuyển giao hợp đồng, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc áp dụng. Các vấn đề như sự đồng ý của bên còn lại, hình thức chuyển giao và điều kiện có hiệu lực của chuyển giao hợp đồng vẫn chưa được quy định rõ ràng. Điều này dẫn đến nhiều tranh chấp và khó khăn trong thực tiễn.

2.1. Những khó khăn trong việc xác định quyền và nghĩa vụ khi chuyển giao

Khi chuyển giao hợp đồng, việc xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên là rất quan trọng. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều trường hợp không rõ ràng dẫn đến tranh chấp. Cần có quy định cụ thể hơn để bảo vệ quyền lợi của các bên.

2.2. Thực trạng áp dụng quy định về chuyển giao hợp đồng

Thực trạng cho thấy nhiều doanh nghiệp và cá nhân chưa nắm rõ quy định về chuyển giao hợp đồng, dẫn đến việc áp dụng không đồng nhất. Cần có các biện pháp tuyên truyền và đào tạo để nâng cao nhận thức về vấn đề này.

III. Phương pháp và giải pháp cho chuyển giao hợp đồng hiệu quả

Để cải thiện quy trình chuyển giao hợp đồng, cần áp dụng các phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc xây dựng các quy định rõ ràng, minh bạch sẽ giúp các bên dễ dàng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Đồng thời, cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến chuyển giao hợp đồng.

3.1. Xây dựng quy định pháp lý rõ ràng về chuyển giao hợp đồng

Cần có các quy định pháp lý cụ thể về điều kiện, hình thức và hiệu lực của chuyển giao hợp đồng. Điều này sẽ giúp các bên dễ dàng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà không gặp phải khó khăn.

3.2. Tăng cường đào tạo và tuyên truyền về chuyển giao hợp đồng

Việc nâng cao nhận thức về chuyển giao hợp đồng cho các bên liên quan là rất cần thiết. Các chương trình đào tạo và tuyên truyền sẽ giúp các bên hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình chuyển giao.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về chuyển giao hợp đồng

Nghiên cứu về chuyển giao hợp đồng không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn cần được áp dụng vào thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng quy định về chuyển giao hợp đồng có thể giúp giảm thiểu tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của các bên. Cần có các nghiên cứu sâu hơn để đánh giá hiệu quả của các quy định hiện hành.

4.1. Các trường hợp thực tiễn về chuyển giao hợp đồng

Có nhiều trường hợp thực tiễn cho thấy việc chuyển giao hợp đồng diễn ra thường xuyên trong các lĩnh vực như bất động sản, thương mại. Những trường hợp này cần được phân tích để rút ra bài học kinh nghiệm.

4.2. Đánh giá hiệu quả của quy định pháp luật hiện hành

Cần có các nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các quy định pháp luật hiện hành về chuyển giao hợp đồng. Điều này sẽ giúp cải thiện quy định và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

V. Kết luận và tương lai của chuyển giao hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam

Chuyển giao hợp đồng là một vấn đề quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam. Việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định về chuyển giao hợp đồng sẽ giúp nâng cao tính ổn định và minh bạch trong các giao dịch dân sự. Tương lai của chuyển giao hợp đồng phụ thuộc vào sự phát triển của pháp luật và thực tiễn áp dụng.

5.1. Tầm quan trọng của việc hoàn thiện quy định về chuyển giao hợp đồng

Việc hoàn thiện quy định về chuyển giao hợp đồng sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của các bên và giảm thiểu tranh chấp. Cần có sự quan tâm từ các cơ quan chức năng để thực hiện điều này.

5.2. Triển vọng phát triển của chuyển giao hợp đồng trong tương lai

Triển vọng phát triển của chuyển giao hợp đồng trong tương lai phụ thuộc vào sự thay đổi của xã hội và nhu cầu thực tiễn. Cần có sự linh hoạt trong quy định để đáp ứng kịp thời với sự phát triển của thị trường.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ chuyển giao hợp đồng theo pháp luật dân sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN GIAO HỢP ĐỒNG   Hiện nay BLDS 2015 chưa có quy định về chuyển giao hợp đồng, nên để nghiên cứu vấn đề này, tác giả tiếp cận từ cơ sở lý luận các vấn đề liên quan đã được quy định trong BLDS 2015. Đó là quy định về chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ, thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba. Trên cơ sở này, tác giả tập trung phân tích khái niệm hợp đồng; các mối quan hệ phát sinh từ hợp đồng; quy định pháp luật về việc chuyển giao các quan hệ pháp luật này. Trong khi đó, hợp đồng không chỉ có quyền và nghĩa vụ, mà còn có yếu tố khác.

Nên pháp luật hiện hành chỉ quy định về việc chuyển giao các mối quan hệ đơn lẻ này là chưa đầy đủ để điều chỉnh mối quan hệ chuyển giao hợp đồng. Ngoài ra, tác giả tìm hiểu quy định về chuyển giao hợp đồng theo pháp luật chuyên ngành Việt Nam, để thấy rằng pháp luật chuyên ngành Việt Nam đã điều chỉnh quan hệ chuyển giao hợp đồng,. Thông qua sự phân tích này, tác giả mong muốn làm rõ BLDS 2015 đã quy định những yếu tố gần với chuyển giao hợp đồng, nhưng chưa thể bao quát hết quan hệ chuyển giao hợp đồng. Trong khi đó pháp luật chuyên ngành đã quy định về vấn đề này.

Vậy nên, xét về mặt lý luận, quan hệ chuyển giao hợp đồng cần được quy định trong Bộ luật nền tảng là BLDS 2015. Khái niệm hợp đồng và các quan hệ phát sinh từ hợp đồng 1. Khái niệm hợp đồng Đối với pháp luật Việt Nam, trải qua quá trình phát triển, khái niệm hợp đồng mới được hình thành và phát triển. Cho đến năm 1989, khái niệm hợp đồng dân sự mới được quy định chính thức trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 (Điều 1) và sau đó là Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 (Điều 1), BLDS 1995 (Điều 394), BLDS 2005 (Điều 388), BLDS 2015 (Điều 385).

BLDS 2005, Điều 388 quy định “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Và đến nay, BLDS 2015, Điều 385 quy định “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ”.   Như vậy, hợp đồng là sự thỏa thuận của ít nhất hai bên tham gia giao kết hợp đồng. Sự thỏa thuận này phải dựa trên ý chí đích thực, tự nguyện của người tham gia giao kết.

Mục đích của việc giao kết hợp đồng là nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ. Theo đó, với tư cách là sự kiện pháp lý, là giao dịch dân sự, hợp đồng bao hàm hai yếu tố: sự thỏa thuận và mục đích tạo lập hiệu lực pháp lý (mục đích xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự). Hợp đồng được thiết lập khi có sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều bên, tức là khi có “sự đồng thuận của các ý định” (consensus ad idem) hay “sự gặp nhau về ý tưởng (meeting of the minds) giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý. Song sự thỏa thuận giữa các bên không nhằm mục đích tạo lập hệ quả pháp lý- phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự (quan hệ pháp luật) thì cũng không hình thành hợp đồng.

Do đó, không thể có hợp đồng nếu không có sự thỏa thuận giữa các bên hoặc nếu sự thỏa thuận giữa các bên không nhằm mục đích tạo lập hệ quả pháp lý, tức làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự. Đây là quan niệm chung của nhiều nước trên thế giới về các dấu hiệu bắt buộc của hợp đồng, đặc biệt là các nước theo truyền thống Civil Law. Mặc dù hợp đồng là sự thỏa thuận nhưng hai thuật ngữ “hợp đồng” và “thỏa thuận” là hai thuật ngữ không đồng nhất. Có thể mọi hợp đồng đều là sự thỏa thuận, sự thỏa thuận không được thừa nhận là hợp đồng mà có thể chỉ mang tính chất bổ sung, thay đổi, chấm dứt quan hệ hợp đồng ví dụ như thỏa thuận thêm về phụ lục trong hợp đồng vay tài sản có thế chấp tài sản bảo đảm thì chúng không tạo lập được quyền, nghĩa vụ dân sự mới4.

Bản chất của hợp đồng được hình thành bởi hai yếu tố pháp lý: Sự thỏa thuận và sự ràng buộc pháp lý giữa các bên. Vì hợp đồng là một giao dịch có hai hoặc nhiều bên tham gia dựa trên sự cam kết, thỏa thuận để tạo lập sự ràng buộc pháp lý với nhau. Không có một hợp đồng nào được tạo ra mà không có sự thỏa thuận, sự thỏa thuận là nền tảng cơ bản tạo nên hợp đồng. Xét về nội dung, sự thỏa thuận phải có nội dung cụ thể, mục đích rõ ràng để xác định được bản chất hợp đồng mà các bên muốn xác lập.

Tuy nhiên, thỏa thuận chỉ có thể làm phát sinh hiệu lực ràng buộc giữa các bên nó phải thỏa mãn các điều kiện về chủ thể (đủ năng lực hành vi dân sự để giao kết hợp đồng), nội dung và mục đích của hợp đồng, hình thức hợp đồng.                                                                                                                         4 Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam, Nxb.   Có lẽ vì hướng đến sự đồng nhất trong nhìn nhận về thuật ngữ hợp đồng nên khái niệm về hợp đồng theo BLDS năm 2015 nói trên đã có thay đổi so với BLDS năm 2005. Theo đó, thuật ngữ “hợp đồng” được dùng thay cho thuật ngữ “hợp đồng dân sự”.

Việc bỏ từ “dân sự” “để tránh tư tưởng BLDS chỉ áp dụng cho quan hệ dân sự thuần túy mà không áp dụng cho các lọai quan hệ hợp đồng khác như quan hệ hợp đồng trong kinh doanh, thương mại, lao động. Với hướng bỏ từ “dân sự”, các quy định về hợp đồng (cũng như quy định khác trong BLDS về hợp đồng) áp dụng cho tất cả các hợp đồng trong các quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật tư”5 để khẳng định vai trò của các quy định hợp đồng trong BLDS là quy định chung về các dạng hợp đồng trong các lĩnh vực khác nhau. Các quan hệ phát sinh từ hợp đồng Khái niệm hợp đồng nêu trên, cho thấy những mối quan hệ phát sinh từ hợp đồng. Vì “định nghĩa trên đã hàm chứa tất cả các dấu hiệu mang tính bản chất của hợp đồng và thể hiện rõ vai trò của hợp đồng trong việc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật”.6 Vậy những quan hệ pháp luật phát sinh, thay đổi, chấm dứt đó là gì? “Xét về bản chất, hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận của các bên, là kết quả của quá trình thương thảo, thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ đối với nhau…Xét về vị trí, vai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, thì hợp đồng là một loại giao dịch dân sự, là một căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật, là phương tiện pháp lý để các bên tạo lập quan hệ nghĩa vụ”.7 Qua sự phân tích đó, thấy rằng hợp đồng làm phát sinh quan hệ pháp lý, đó là quan hệ quyền và quan hệ nghĩa vụ.

Quyền và nghĩa vụ là quan hệ mà các bên giao kết hợp đồng muốn hướng đến. Các quyền và nghĩa vụ tương ứng theo hợp đồng giao kết. “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có                                                                                                                         5 Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.

6 Lê Minh Hùng (2015), Hiệu lực của hợp đồng, Nxb. Hồng Đức, tr. 7 Lê Minh Hùng (2015), tlđd (6).   giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)” (Điều 274 BLDS năm 2015).

Với quy định định nghĩa này, “nghĩa vụ” là gì đã được làm rõ, bằng chính nội dung của điều luật. Và thế nào là “quyền”? BLDS 2015 không quy định riêng thế nào là quyền. Nhưng có thể hiểu nghĩa của “quyền” trong chính định nghĩa của “nghĩa vụ”. Theo đó, quyền là việc một hay nhiều chủ thể được yêu cầu một hay nhiều chủ thể là bên có nghĩa vụ phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác.

Điều 275 BLDS 20158 quy định có nhiều căn cứ phát sinh nghĩa vụ, trong đó có hợp đồng. Cũng như phần định nghĩa, BLDS 2015 không quy định căn cứ làm phát sinh quyền. Nhưng có thể hiểu trong hợp đồng, tương ứng với nghĩa vụ của bên này là quyền của bên kia. Bên có nghĩa vụ bị yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ của mình, bởi bên có quyền.

Nên khi nghĩa vụ phát sinh thì theo đó quyền cũng phát sinh. Đây là hai quan hệ tương ứng trong hợp đồng. Như thế, theo khái niệm hợp đồng, thì hợp đồng bao gồm quyền và nghĩa vụ. Nhưng phân tích mở rộng các yếu tố của hợp đồng, thấy rằng hợp đồng còn có những quan hệ khác ngoài quan hệ quyền và nghĩa vụ, mà tác giả Ngô Quốc Chiến đã đưa ra quan điểm “hợp đồng không chỉ đơn thuần là tập hợp các quyền và nghĩa vụ mà còn là mối quan hệ giữa hai bên giao kết và đi liền với nó là phẩm chất cá nhân cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng và các quyền phản kháng đơn phương”9.

Thật vậy, để giao kết hợp đồng, các chủ thể tự do tìm hiểu, lựa chọn đối tác, dựa trên những điều kiện của đối tác để người này có thể mang lại lợi ích theo hợp đồng cho họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ