CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm việc làm Từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu bàn về khái niệm việc làm. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khái niệm việc làm đã có nhiều thay đổi tuỳ thuộc vào từng thời điểm, không gian và cách tiếp cận.
Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Bất kỳ nghề nào, việc gì cần thiết cho xã hội, mang lại thu nhập cho người lao động để nuôi sống bản thân và gia đình, không bị pháp luật ngăn cấm, đó là việc làm” [30]. Ở Việt Nam, cùng với việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, Bộ luật Lao động 2019 đã chỉ rõ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [36]. Theo khái niệm trên, những hoạt động được gọi là việc làm phải thỏa mãn hai điều kiện sau: Thứ nhất, là hoạt động tạo ra thu nhập một cách trực tiếp cho cá nhân người lao động hoặc tạo ra thu nhập gián tiếp cho gia đình và xã hội. Điều kiện này cho thấy sự thay đổi quan niệm về việc làm: trước đây trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, việc làm được quan niệm rất hẹp, chỉ có việc làm trong khu vực nhà nước mới được thừa nhận; trong nền kinh tế thị trường, khái niệm này mở rộng rất nhiều, việc làm không chỉ tồn tại trong các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, mà còn ngay tại gia đình, do chính bản thân người lao động tạo ra để có thu nhập.
Thứ hai, là hoạt động không bị pháp luật ngăn cấm. Nó cũng cho thấy một sự thay đổi nữa, đó là giải quyết việc làm (giải quyết việc làm), đảm bảo 7 cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà còn của các doanh nghiệp và của toàn xã hội. Như vậy, “việc làm” theo tác giả là các hoạt động mang lại thu nhập cho người lao động, không bị pháp luật cấm, bao gồm: (1) các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền mặt hoặc hiện vật; (2) các công việc tự làm để tạo thu nhập cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình mình nhưng không được trả công (bằng tiền mặt hoặc hiện vật) cho công việc đó, gọi là việc làm tự tạo. Khái niệm “việc làm tự tạo” cho thanh niên liên quan đến việc tự quản lý và sở hữu một cơ sở sản xuất hàng hóa và dịch vụ.
Chính sách việc làm cho thanh niên Chính sách việc làm cho thanh niên là một nội dung trong chính sách công của Nhà nước nhằm triển khai các chủ trương, pháp luật và định hướng của Nhà nước về việc làm cho thanh niên. Nghiên cứu chính sách việc làm cho thanh niên trước hết cần làm rõ một số nội dung về chính sách công. Khái quát về chính sách công * Khái niệm chính sách công: Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu tác giả sử dụng khái niệm của tác giả Văn Tất Thu (2017) thì chính sách công là chính sách của nhà nước đối với khu vực công cộng, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó nhà nước tồn tại; đồng thời phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của đảng chính trị phục vụ cho mục đích của đảng, lợi ích và nhu cầu của nhân dân [40]. Ngoài mục đích phục vụ cho lợi ích của giai cấp, của Đảng cầm quyền còn để mưu cầu lợi ích cho người dân và xã hội.
Khái niệm, đặc điểm của thanh niên Thanh niên Việt Nam (độ tuổi từ 16 đến 30, theo quy định của Luật Thanh Niên) là một tầng lớp xã hội đặc thù, chiếm số đông trong dân số cả 8 nước. Thanh niên Việt Nam không phải là một giai cấp nhưng có mặt ở cả giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức: thanh niên không phải là một tầng lớp xã hội độc lập mà có mối quan hệ gắn bó mặt thiết với các tầng lớp khác trong xã hội; thanh niên có mặt ở tất cả địa phương, các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước [33]. Về một số đặc điểm của lao động thanh niên +/ Điểm mạnh của lao động thanh niên - Có thể lực, đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp về bộ phận nhân lực trẻ khỏe, thậm chí trong các công việc dùng sức là chính. Trong thực tế tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, nhu cầu lao động được chia thành các cấu phần khác nhau.
Trong cơ cấu sử dụng nhân lực của các doanh nghiệp, không phải tất cả các bộ phận đều cần dùng nhân lực qua đào tạo mà vẫn cần một bộ phận nhân lực làm các công việc đơn giản, yêu cầu có sức khỏe là chính. Nhu cầu về lao động loại này tuy không nhiều, nhưng rõ ràng lao động thanh niên có ưu thế hơn lao động trung niên và cao tuổi. Khả năng cạnh tranh một vị trí làm việc của lao động thanh niên, do vậy là cao hơn so với các nhóm lao động khác. Rất nhiều phẩm chất của lao động thanh niên được doanh nghiệp đánh giá cao.
Đây là điểm mạnh để ổn định việc làm. Trong số những phẩm chất này, đáng chú ý nhất là sức khoẻ, quan hệ với đồng nghiệp tại nơi làm việc. Nhờ những phẩm chất này mà việc hội nhập vào môi trường làm việc của doanh nghịêp trở nên dễ dàng hơn. Lao động tốt nghiệp đại học, cao đẳng và dạy nghề còn có những phẩm chất khác nữa như mong muốn thăng tiến trong nghề nghiệp, khả năng tiến bộ trong công việc, quan hệ tốt với đồng nghiệp và dễ hoà nhập vào môi trường làm việc.
+/ Hạn chế của lao động thanh niên: - Đối với lao động thanh niên tốt nghiệp phổ thông, hạn chế lớn nhất là 9 không qua đào tạo nên việc hội nhập vào thị trường lao động không dễ dàng. - Đối với lao động thanh niên qua đào tạo, hạn chế lớn nhất là cơ cấu lao động tốt nghiệp ĐH, CĐ và trường nghề quá mất cân đối. Cơ cấu cung lao động mất cân đối thể hiện trước hết ở quan hệ giữa lao động có trình độ đại học với lao động có trình độ cao đẳng và công nhân kỹ thuật. Quan hệ này thường được nhắc tới như “thừa thầy-thiếu thợ”.
Đối với lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học hay trường nghề, hạn chế thứ hai là kiến thức, kỹ năng có được từ trường đào tạo còn có khoảng cách lớn đối với thực tiễn công việc đòi hỏi. Chính vì vậy, sau khi tuyển xong, nhiều doanh nghiệp đã phải tổ chức đào tạo lại, hoặc gửi đi đào tạo trước khi có thể sử dụng được họ. Khoảng cách đối với yêu cầu của người sử dụng lao động có thể xem xét trên các mặt: kinh nghiệm, kiến thức cập nhật, kỹ năng thích nghi, ngoại ngữ, khả năng giao tiếp… Những khía cạnh này ít được đề cập hoặc đề cập không đầy đủ trong quá trình học tập [27]. - Đối với lao động thanh niên, họ còn có hạn chế nữa là tác phong lao động công nghiệp, ý thức kỷ luật lao động còn yếu.
Lao động phổ thông phần lớn xuất thân từ nông thôn, nên ít có tác phong lao động công nghiệp, hạn chế trong hiểu biết về luật pháp lao động, ngỡ ngàng với những qui định, thủ tục giao kết hợp đồng lao động, chấp hành nội qui lao động… nên không dễ cho lao động phổ thông tìm việc. Lối sống hợp tác trong công việc với đồng nghiệp, tuân thủ sự chỉ đạo của cán bộ quản lý còn yếu. Cũng giống như lao động phổ thông, lao động tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo còn mang nặng tác phong của người lao động ở một nước có phần đông lao động làm việc ở nông thôn, trong khu vực nông nghiệp. Do nhiều nội dung, nhiều khía cạnh không được trang bị trong trường đào tạo nên họ ít có tác phong lao động công nghiệp, hạn chế trong hiểu biết về luật pháp lao động, ngỡ ngàng với những qui định, thủ tục giao kết hợp đồng lao động, chấp hành nội qui lao động… 10 - Lao động thanh niên nói chung có các mối quan hệ xã hội, nhất là mạng lưới tuyển dụng rất hạn chế.
Đây cũng là điểm yếu của họ khi tìm việc. Nhiều nghiên cứu về thị trường lao động đã cho thấy việc tuyển dụng lao động hiện nay chủ yếu thông qua các mối quan hệ xã hội - tồn tại một mạng lưới xã hội trong tuyển dụng lao động. - Tâm lý kén việc của lao động thanh niên. Người lao động phổ thông là thanh niên, mặc dù không có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhưng về mặt tâm lý, hầu hết muốn làm việc tại các đô thị lớn; rất ít người muốn làm việc ở khu vực nông thôn.
Thêm vào đó đa số hiện nay thanh niên muốn làm việc ở khu vực nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và ít người muốn làm việc ở khu vực tư nhân. Với lao động qua đào tạo cũng có tâm lý kén việc. Hầu hết muốn làm việc tại các đô thị lớn; rất ít người muốn làm việc ở khu vực nông thôn. - Riêng đối với lao động thanh niên thất nghiệp, chưa có việc làm, họ có những điểm mạnh và điểm yếu nói trên, song họ còn có một hạn chế nữa là tính năng động trong tìm việc làm còn hạn chế, các kênh tuyển dụng trực tiếp còn chưa được lao động thanh niên sử dụng.
Việc quá lệ thuộc vào các trợ giúp bên ngoài có thể là một trong những hạn chế lớn nhất của lao động thất nghiệp, chưa có việc làm. Chính sách việc làm cho thanh niên Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào đưa ra định nghĩa cụ thể chính sách việc làm cho thanh niên. Theo Giáo trình Chính sách kinh tế - xã hội (Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng) khái niệm chính sách việc làm nói chung là: “Chính sách việc làm là tổng thể các quan điểm, mục tiêu, giải pháp và công cụ của Nhà nước nhằm sử dụng hợp lý lực lượng lao động và tạo việc làm cho lực lượng lao động đó” [45].