Phần Mở đầu và Kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng: Chƣơng 1 - Cơ sở khoa học về thực thi chính sách phòng, chống tham nhũng trong đầu tƣ công Chương 2 - Thực thi chính sách phòng chống tham nhũng trong đầu tƣ công ở Việt Nam Chương 3 - Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện quá trình thực thi chính sách phòng, chống tham nhũng trong đầu tƣ công ở Việt Nam 7 e Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG ĐẦU TƢ CÔNG 1. Đầu tƣ công và tham nhũng trong đầu tƣ công 1. Khái niệm đầu tư công Khoản 15, Điều 4, Luật Đầu tƣ công quy định: Đầu tƣ công là hoạt động đầu tƣ của Nhà nƣớc vào các chƣơng trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tƣ vào các chƣơng trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Theo tác giả Vũ Tuấn Anh và Nguyễn Quang Thái (2011), “Đầu tƣ công” cần đƣợc quan niệm một cách đon giản, đó là tất cả các khoản đầu tƣ của Chính phủ và Doanh nghiệp nhà nƣớc, bao gồm: đầu tƣ từ NSNN (phân cho các bộ/ngành Trung ƣơng và phân cho các địa phƣơng); đầu tƣ cho các chƣơng trình hỗ trợ có mục tiêu.; tín dụng đầu tƣ (vốn cho vay) có mức độ ƣu đãi nhất định và đầu tƣ của các doanh nghiệp nhà nƣớc.
Cách hiểu của các tác giảkhá rộng, bao trùm hết các dạng đầu tƣ công.Trong luận văn này, chỉgiới hạn quan tâm đến đầu tƣ công từ nguồn vốn NSNN do Bộ Tài chính phân bổ theo kế hoạch hằng năm cấp cho các bộ chủ quản đầu tƣ. Hiểu theo nghĩa hẹp, đầu tƣ công là đầu tƣ bằng nguồn vốn NSNN vào các chƣơng trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hoặc đầu tƣ vào các chƣơng trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tƣ công khác với đầu tƣ tƣ nhân ở chỗ: vốn đầu tƣ công thuộc sở hữu của Nhà nƣớc (với tƣ cách cơ quan công quyền), nên không có cá nhân làm chủ tài sản đầu tƣ, chỉ có cá nhân hoặc tổ chức đóng vai trò đại diện chủ sở hữu nhà nƣớc quản lý vốn nhà nƣớc đầu tƣ vào các chƣơng trình, dự án do cơ quan nhà nƣớc phê chuẩn. Tùy theo quy định của pháp luật về tổ chức bộ 8 e máy nhà nƣớc trong lĩnh vực quản lý đầu tƣ công của mỗi nƣớc mà hệ thống các cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn đầu tƣ công và quan hệ giữa chúng là khác nhau.
Tuy nhiên, ở hầu hết các nƣớc, cơ quan nhà nƣớc quản lý đầu tƣ công cũng là một hệ thống nhiều cấp. Chính vì thế, nếu các yếu tố cấu thành bộ máy đại diện cho chủ sở hữu nhà nƣớc đối với dự án sử dụng vốn nhà nƣớc không đƣợc thiết kế và kiểm soát chặt chẽ thì sẽ có nguy cơ sử dụng lãng phí hoặc thất thoát vốn đầu tƣ công. Hơn nữa, do đầu tƣ công phục vụ lợi ích chung của xã hội và đƣợc NSNN tài trợ, nên cơquan nhà nƣớc có thể quyết định đầu tƣ vào các lĩnh vực có tỷ suất sinh lời không lớn. Quá trình đầu tƣ công bao gồm các bƣớc: chuẩn bị đầu tƣ(lập, thẩm định, quyết định chủ trƣơng đầu tƣ; lập, thẩm định, quyết định chƣơng trình, dự án đầu tƣ công; lập, thẩm định, phê duyệt, giao, triển khai thực hiện kế hoạch đầu tƣ công; tổ chức thực hiện quá trình đầu tƣ công (tổ chức bộ máy quản lý dự án đầu tƣ công; huy động, phân bổ, quản lý, sử dụng vốn đầu tƣ công; giám sát, kiểm tra, thanh tra, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạchdự án đầu tƣ công; nghiệm thu, bàn giao cho bên sử dụng tài sản hình thành từ đầu tƣ công); sử dụng kết quả đầu tƣ côngvà đánh giá hậu dự án đầu tƣ công.
Theo Luật Đầu tƣ công ở Việt Nam, Nhà nƣớc chỉ đầu tƣ vào các chƣơng trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trƣờng, quốc phòng, an ninh; dự án đầu tƣ không có điều kiện xã hội hóa thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, khoa học, giáo dục và đào tạo. Nhƣ vậy, có thể thấy, có nhiều khái niệm về đầu tƣ công khác nhau và cũng có nhiều khác biệt nhất định tùy theo quan điểm của từng quốc gia. Tuy nhiên, tựu chung lại, một cách khái quát nhất, có thể hiểu đầu tƣ công là hoạt động đầu tƣ của nhà nƣớc vào các chƣơng trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tƣ vào các chƣơng trình, dự án phục vụ 9 e phát triển kinh tế - xã hội, chủ yếu đầu tƣ vào các lĩnh vực phục vụ lợi ích chung. Vai trò của đầu tư công Vai trò đầu tƣ công gắn liền với quan niệm về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nƣớc nói chung và vai trò bà đỡ của bàn tay nhà nƣớc nói riêng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo yêu cầu phát triển bền vững và bảo đảm an sinh xã hội.
Thực tế, vai trò của đầu tƣ công đƣợc thể hiện rõ ở các điểm nhƣ sau: Đầu tƣ công góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội. Đầu tƣ công đóng góp lớn vào tăng trƣởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,… Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì đầu tƣ công càng nổi bật vai trò duy trì động lực tăng trƣởng kinh tế thông qua các gói kích cầu của Chính phủ. Đầu tƣ công góp phần định hình và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội quốc gia. Đầu tƣ công làm gia tăng tổng cầu của xã hội.
Đầu tƣ công chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tƣ của toàn bộ nền kinh tế. Khi tổng cung chƣa thay đổi, sự tăng lên của đầu tƣ làm cho tổng cầu tăng kéo sản lƣợng cân bằng và giá cân bằng cũng tăng. Đầu tƣ công làm gia tăng tổng cung và năng lực kinh tế. Đầu tƣ công làm tăng năng lực sản xuất làm tổng cung tăng và sản lƣợng tăng, giá giảm xuống cho phép tiêu dùng tăng.
Tăng tiêu dùng lại kích thích sản xuất phát triển và làm kinh tế - xã hội phát triển. Đầu tƣ công có vai trò nhƣ là khoản “Đầu tƣ mồi”, tạo cú huých và duy trì động lực tăng trƣởng. Đầu tƣ công định vị và củng cố nền kinh tế trong mối quan hệ của khu vực và quốc tế. Tạo niềm tin và động lực cho các nguồn đầu tƣ khác vào trong nƣớc góp phần tăng trƣởng kinh tế.
Đầu tƣ công góp 10 e phần giải quyết việc làm, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp, tạo việc làm và thu nhập cho toàn xã hội. Khái niệm tham nhũng Theo Từ điển tiếng Việt, tham nhũng là "lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và lấy của”. Theo cách hiểu của nhân dân thì tham nhũng là hành vi của bọn “tham quan, ô lại” biển thủ tài sản công, chiếm đoạt tài sản của ngƣời dân, ăn hối lộ, hối lộ. Đi kèm với từ “tham nhũng” luôn hình thành cụm từ “quan lại tham nhũng", không có cụm từ “dân tham nhũng", vì có chức vụ, quyền hành mới có khả năng tham nhũng.
Luật Phòng, chống tham nhũng của Việt Nam đƣợc Quốc hội thông qua ngày 29-11-2005 nêu khái niệm: “Tham nhũng là hành vi của ngƣời có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi", tức là vì các lợi ích vật chất, tinh thần mà làm các việc sai với chức trách đƣợc giao. Tại Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng cũng giải thích cụ thể là lợi ích vật chất, tinh thần mà ngƣời có chức vụ, quyền hạn đạt đƣợc hoặc có thể đạt đƣợc thông qua hành vi tham nhũng. Ngƣời có chức vụ, quyền hạn đƣợc xác định là cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nƣớc; cán bộ lãnh đạo, quản lý là ngƣời đại diện phần vốn góp của Nhà nƣớc tại doanh nghiệp; ngƣời đƣợc giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Các hành vi tham nhũng, bao gồm: + Tham ô tài sản.
+ Nhận hối lộ. 11 e + Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. + Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi. + Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hƣởng với ngƣời khác để trục lợi. + Giả mạo trong công tác vì vụ lợi. + Đƣa hối lộ, môi giới hối lộ đƣợc thực hiện bởi ngƣời có chức vụ, có quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phƣơng vì vụ lợi. + Nhũng nhiễu vì vụ lợi.
+ hông thực hiện nhiệm vụ công vụ vì vụ lợi. + Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho ngƣời có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi. Nhƣ vậy, pháp luật của nƣớc ta cũng xác định chủ thể của tham nhũng là ngƣời có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nƣớc, tức là những ngƣời đƣợc sử dụng quyền lực công; hành vi tham nhũng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn, bao gồm những việc làm và những việc không làm (làm ngơ, bỏ qua, cho qua, né tránh) vì mục đích vụ lợi nhằm nhận đƣợc các lợi ích vật chất (tiền, quà biếu…) và các lợi ích tinh thần không bằng công sức của mình. Tác động của tham nhũng đến đầu tư công Tham nhũng hay tham ô là hành vi của ngƣời lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân (định nghĩa của tổ chức Minh bạch quốc tế).
Khái niệm tham nhũng đƣợc liên kết chặt chẽ và là một biểu hiện thƣờng gặp trong khu vực công. Acemoglu và Verdier (2000) đã khẳng định tham nhũng là sản phẩm phụ của quá trình can thiệp của 12 e chính phủ.