CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN 1. Đảng viên và chính sách phát triển đảng viên 1. Khái niệm đảng viên và chính sách phát triển đảng viên - Khái niệm Đảng viên Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sỹ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng (Theo Khoản 1, Điều I, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, khóa XI). - Khái niệm chính sách phát triển đảng viên Chính sách là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu, trên các phương tiện truyền thông và trong đời sống xã hội.
Tuy nhiên, đây cũng là thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng. Có rất nhiều định nghĩa về chính sách, có quan niệm cho rằng “chính sách là một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách.Chính sách là một công cụ quan trọng của quản lý. Mọi tổ chức, mọi cấp quản lý đều phải sử dụng các công cụ quản lý như chiến lược, kế hoạch, chính sách và quyết định quản lý để tác động lên đối tượng quản lý theo một cách thức nào đó nhằm đạt tới mục tiêu mong muốn. Quan niệm khác lại cho rằng chính sách là tập hợp các quyết định hay chương trình hành động do tập thể các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn 8 đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.
David Easton(1953) thì cho rằng “chính sách bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động mà trong đó phân phối thực hiện các giá trị”. Phát triển đảng viên, thường được hiểu là sự tăng lên về số lượng và nâng cao về chất lượng. Phát triển đảng viên bao gồm hai phương diện chủ yếu là kết nạp đảng viên mới và cũng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên hiện có. Phát triển đội cán bộ cũng bao gồm bổ sung lực lượng cán bộ mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hiện có.
Từ các định nghĩa về chính sách nêu trên chúng ta có thể đi đến khái niệm chính sách phát triển đảng viên chính là tập hợp các quyết định hay chương trình hành động do các nhà lãnh đạo đề ra để giải quyết vấn đề về phát triển đảng viên của Đảng Thực hiện chính sách phát triển đảng viên là bước đưa chính sách phát triển đảng viên vào thực hiện trong đời sống xã hội. Bao gồm các hoạt động như tuyên truyền, phổ biến, vận động, tổ chức nguồn lực, phân công, phối hợp thực hiện, kiểm tra, đôn đốc và hiệu chỉnh chính sách cùng với các biện pháp hỗ trợ khác để chính sách phát huy được vai trò trong cuộc sống. Tổng hợp các hoạt động của tổ chức đảng, cơ quan tổ chức có liên quan và của mỗi cán bộ, đảng viên nhằm xây dựng đội ngũ đảng viên không ngừng phát triển và vững mạnh cả về số lượng, chất lượng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của Đảng. Cho thấy chủ thể của việc thực hiện chính sách phát triển đảng viên là các tổ chức đảng, cấp ủy các cấp có liên quan gồm: ở trung ương là đảng ủy bộ ngành cơ quan trung ương, ở các tỉnh là tỉnh ủy ở cấp thành phố là thành ủy, cấp quận huyện là quận ủy, Huyện ủy và các Đảng ủy trực thuộc.
Lực lượng phối hợp trong thực hiện chính sách phát triển đảng viên gồm các cấp ủy có liên quan và các tổ chức có liên quan trong hệ thống chính trị cấp tỉnh, thành, quận, huyện giữ vai trò lực lượng chính. Các tổ chức đoàn thể là lực 9 lượng nòng cốt trong việc phối hợp. Mục đích của việc thực hiện chính sách phát triển đảng viên trong các tổ chức đảng là nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên; phát triển đảng viên các thôn, tổ, buôn sóc…., các nơi chưa có đảng viên, thành lập các tổ đảng, tổ chức đảng ở các khu dân cư. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng làm cho các tổ chức đảng và đảng viên thực hiện có hiệu quả, theo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Vấn đề của chính sách phát triển đảng viên Phát triển đảng viên là vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, nhằm làm tăng thêm nguồn sinh lực cho Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Nếu không làm tốt công tác này, Đảng sẽ bị già hóa, trì trệ, giảm sút năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, không hoàn thành được vai trò lãnh đạo và sứ mệnh của mình đối với sự nghiệp cách mạng. Từ những năm 1992, chính sách phát triển đảng đã được đảng ta quan tâm, được cụ thể hóa trong nghị quyết số 03 về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành trung ương khóa VII “Công tác phát triển đảng phải nhằm tăng thêm sinh lực cho Đảng, trẻ hoá đội ngũ, bảo đảm sự kế thừa và phát triển của Đảng. Làm tốt công tác tạo nguồn để lựa chọn, bồi dưỡng, kết nạp những người ưu tú có đủ tiêu chuẩn trong Đoàn thanh niên, trong công nhân, nông dân, trí thức, chiến sĩ các lực lượng vũ trang., chú ý những cơ sở trọng yếu, những nơi còn ít và chưa có đảng viên.
Coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng, bảo đảm chặt chẽ về nguyên tắc; đồng thời không định kiến, hẹp hòi. Quy định lại những thủ tục xem xét kết nạp đảng viên cho phù hợp với tình hình mới. Các đồng chí giới thiệu phải thực sự chịu trách nhiệm; người được giới thiệu phải trải qua thử thách cần thiết.” 10 Vì vậy, thực hiện chính sách phát triển đảng viên là yêu cầu khách quan, thường xuyên trong hoạt động lãnh đạo và công tác tổ chức xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng quán triệt: “Khi kết nạp đảng viên mới cần phải giữ đúng những điều kiện Trung ương đã quy định và kết hợp với những công tác trọng tâm.
Quyết không nên tùy tiện, cẩu thả, tách rời công việc thực tế… Khi kết nạp thì thủ tục phải nghiêm nhưng giản đơn”. Mối quan tâm rất lớn của Đảng đó là việc lựa chọn, kết nạp những quần chúng ưu tú, có lý tưởng cách mạng trong đó đối tượng là công nhân và người lao động, những quần chúng và đoàn viên thanh niên thực sự ưu tú, tiêu biểu, phẩm chất đạo đức tốt. Trải qua 90 năm xây dựng và trưởng thành, vấn đề đảng viên và phát triển đảng viên luôn luôn được quan tâm chú trọng qua từng giai đoạn cách mạng của nước ta và cho đến những năm gần đây, vấn đề chất lượng đảng viên, chỉnh đốn đảng, sàng lọc đảng viên làm trong sạch đội ngũ xây dựng đội ngũ đảng viên nói chung và chăm lo công tác phát triển đảng viên mới nói riêng đã trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu trong công tác xây dựng Đảng của đảng ta. Số lượng Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam tính đến kỳ đại hội XII (năm 2016) là khoảng hơn 4,5 triệu đảng viên.
Qua quá trình phát triển của lịch sử, số lượng đảng viên không ngừng gia tăng, trong lịch sử, nhiều đảng viên đã có nhiều đóng góp, hi sinh cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam và để lại nhiều tấm gương tốt điển hình xuất sắc, thể hiện được tinh thần tiên phong và tính gương mẫu. Nhiều lãnh tụ, lãnh đạo tiêu biểu của Việt Nam là đảng viên Đảng cộng sản, nhiều đảng viên trẻ xuất sắc được tuyên dương khen thưởng, nhiều quần chúng ưu tú, đoàn viên thanh niên ưu tú đã được kết nạp vào Đảng. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn tình trạng cán bộ, đảng viên có những hành vi tham nhũng, lãng phí, suy thoái về đạo đức, lối sống. Đâu đó vẫn còn những quần chúng phấn đấu vào đảng không phải vì mục tiêu lý 11 tưởng của Đảng mà vì mục đích cá nhân làm ảnh hưởng đến hình ảnh của đảng viên Đảng cộng sản.
Do đó, cần khắc phục những vấn đề trên để phát triển được đội ngũ đảng viên thực sự tiền phong gương mẫu, phát huy được vai trò của đảng viên trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đảng, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Vị trí, vai trò của đảng viên và chính sách phát triển đảng viên 1. Vị trí, vai trò của đảng viên Trong lịch sử Việt Nam thì đảng viên có vai trò hết sức to lớn. Từ khi mới thành lập Đảng sự nỗ lực của những đảng viên đã thu hút, lôi cuốn quần chúng vì họ đã nêu cao tinh thần gương mẫu và sự xả thân và là tấm gương sáng về lối sống, tác phong giản dị, gần gũi và vì nhân dân, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích của cá nhân, gia đình, dòng họ.
Theo diễn tiến của lịch sử Việt Nam đã có hàng vạn đảng viên chịu xung phong làm những việc khó, sẵn sàng hy sinh cho lý tưởng của Đảng. Nếu không có các thế hệ đảng viên tận tụy trung thành với Đảng, sẵn sàng hy sinh để thực hiện nhiệm vụ và không có những thế hệ đảng viên gửi gìn được phẩm chất, đạo đức lối sống tốt đẹp, luôn gương mẫu thì Đảng không thể lớn mạnh, không thể có đủ uy tín để lãnh đạo đất Nước. Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có thể tồn tại và cầm quyền lãnh đạo thông qua từng vai trò của mỗi đảng viên. Tính đến nay, đội ngũ đảng viên có vai trò rất lớn trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước (ở các vị trí lãnh đạo, quản lý) cũng như trong các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể ở nước ta.
Hầu hết các lãnh đạo cấp cao, chủ chốt của nhà nước các cấp đều là đảng viên.