Chương I: Tổng quan, cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển chuỗi giá trị nông lâm sản Chương II: Đặc điểm địa bàn và phươnng pháp nghiên cứu Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận CHUONG I. TONG QUAN, CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN VE CHINH SACH PHAT TRIEN CHUOI GIA TRI NONG LAM SAN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước 1.
Các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị nông lâm sản Michael Porter (1985) đã sử dụng chuỗi giá trị nhăm đánh giá được tính cạnh tranh của các doanh nghiệp. Thông qua các giai đoạn từ thiết kế đến mua sam vật tư, hậu cần, tiếp thị, bán hàng và dịch vụ hỗ trợ. Nghiên cứu đặt nên móng phổ biến chuỗi gia tri. Humphrey và cộng sự (2000) nghiên cứu sô tay cho chuỗi giá trị.
Nhóm tác giả trình bày các định nghĩa và bối cảnh cơ bản về chuỗi giá trị bao gồm: chuỗi giá trị cơ bản, chuỗi giá trị mở rộng, vai trò của phân tích chuỗi gia tri, van dé toàn cầu hoá trong chuỗi giá trị. Tiếp theo, nhóm tác giả đưa ra các hướng dẫn phân tích chuỗi giá trị gồm: 03 yếu tố chính của phân tích chuỗi giá trị; đối mới và nâng cấp chuỗi giá trị; phân tích chuỗi giá trị. Cuối cùng, nghiên cứu trình bày phương pháp tìm hiểu chuỗi giá trị. Phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị: Gereffi và Korzenniewicz (1994) tiếp cận chuỗi giá trị theo phương pháp chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhóm tác giả cho thấy chuỗi hàng hoá toàn cầu phát triển theo thời gian, cách phân chia lao động trong quá trình sản xuất được phân phối trên toàn cầu và làm thế nào ảnh hưởng đến sự phân phối thu nhập và lợi nhuận giữa các nước đang phát triển và phát triển. Nâng cấp chuỗi giá trị: Humphrey và cộng sự (2010) nghiên cứu về chuỗi giá trị, can thiệp của các nhà tải trợ và giảm nghèo. Kết quả nghiên cứu xác định 4 mục tiêu khác nhau khi các nhà tài trợ hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị: 1) Tăng cường liên kết yếu nhất dé giải quyết 1 nút cổ chai có thé phát triển trong chuỗi; 2) Nâng cao trình độ và nguồn lực dé tat cả các công ty trong chuỗi hiệu quả hon; 3) Cải thiện các liên kết cụ thé giữa các công ty (tại nút cô chai); 4) Tạo các liên kết mới/thay thế trong chuỗi. Xu hướng phát triển nghiên cứu về chuỗi giá trị: Luận văn kế thừa nghiên cứu của nhóm tác giả Kano và cộng sự (2020) đánh giá xu hướng phát triển của nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu bằng cách phân tích một số khung khái niệm trong giai đoạn 20 năm qua.
Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm nổi bật của nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, nhóm tác giả đề xuất một số chủ đề nghiên cứu trong tương lai bao gồm: Quản lý chuỗi giá trị, lập bản đồ chuỗi giá trị, đào tạo, tác động của quyền sở hữu và chiến lược của công ty, động lực sắp xếp chuỗi giá trị, tạo giá trị và phân phối, 5 tài trợ, số hoá, tác động của chuỗi giá trị toàn cầu trong môi trường vĩ mô và quản lý hiệu suất. Các công trình nghiên cứu về chính sách phát triển chuỗi giá trị nông lâm sản Kimani và cộng sự (2020) nghiên cứu về nhận thức của các đối tượng về hiệu suất của chính phủ trong việc hỗ trợ chuỗi giá trị thuỷ sản quy mô nhỏ tại 5 địa điểm ở Kenya gồm Malindi, Mayungu, Mombasa, Shimoni và Vanga. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn khảo sát 403 đối tượng bao gồm: ngư dân, người trung gian, ban quản lý tại 5 địa điểm.
Nhóm tác giả sử dụng thang đo Likert (bậc 5) để đánh giá. Kết quả cho thấy, các chính sách cấp quốc gia được đánh giá cao hơn chính sách tại cấp cơ sở. Các yếu tô gồm: cung cấp thiết bị, tiếp thị sản phẩm, khuyến mãi được đánh giá thấp nhất; trong khi đó yếu tố thúc đây sự hợp tác và quản lý cấp cộng đồng được đánh giá cao nhất. Yếu té dia lý là van đề quan trọng nhất anh hưởng đến nhận thức của các đối tượng, trong khi yếu tố kinh tế ảnh hưởng không đáng kể.
Mặc dù các mục tiêu của chính sách thuỷ sản không được thực thi đầy đủ, tuy nhiên các cải cách gần đây của chính quyền có khả năng giải quyết được những thiếu sót đã xác định. Kết quả nghiên cứu của Taglioni và Winkler (2014) cho thấy, đối với các nước đang phát triển, việc tích hợp của các công ty trong nước (nhà cung cấp và sản xuất cuối cùng) vào chuỗi giá trị toàn cầu có thé giúp các nước nay tăng quá trình công nghiệp hoá. Ngoài ra, nâng cao trình độ lao động cũng là một trong những yếu tố quan trọng để phù hợp với đầu tư nước ngoài. Các quốc gia có thê tham gia chuỗi giá trị toàn cầu băng cách tạo điều kiện cho nhập cảnh của các công ty trong nước/thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (viết tắt là FDI).
Các quốc gia này (đặc biệt đối với các quốc gia có cơ sở hạ tầng kém và thuế nhập khẩu cao) có thê tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài băng cách tạo ra các khu chế xuất với các địa điểm sở hữu cơ sở hạ tầng tốt, quy trình hợp lý và các ưu đãi về thuế quan. Nhóm tác giả đề xuất khung chính sách chiến lược đối với việc doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Luận văn kế thừa chủ yếu kết quả nghiên cứu của Sharma và Bharti (2020) khi đánh giá các nghiên cứu liên quan đến chuỗi giá trị LSNG và chính sách. Nhóm tác giả xem xét tác động của chuỗi giá trị lâm sản ngoài gỗ đối với sinh kế bền vững, đánh giá các liên kết chuỗi giá trị và xác định lỗ hồng chính sách hiện nay thông qua lập bản đồ hệ thống các nghiên cứu trong giai đoạn 2000-2019.
Nhóm tác giả sử dụng phương pháp tong hợp tài liệu; phân tích và tối ưu hoá trực quan. Kết quả chính của nghiên cứu cho thấy sự kết hợp giữa các phương pháp truyền thống và phát triển sẽ tăng 6 cường chuỗi giá trị LSNG. Các vấn đề chính sách liên quan đến LSNG đã phát triển như một nhánh nghiên cứu quan trọng. Nhóm tác giả khuyến nghị lập bản đồ các chuỗi giá trị trong nghiên cứu LSNG dé hướng dẫn đảm bảo an ninh sinh kế bền vững va toàn diện.
Luận văn: “Chính sách phát triển chuỗi giá trị cây qué tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bai’ nghiên cứu các van đề chính gồm LSNG (cây qué), đánh giá chính sách hiện nay tại địa phương, chuỗi giá trị LSNG phù hợp với hướng nghiên cứu tiềm năng trong tương lai về LSNG (Sharma và Bharti, 2020). Các công trình nghiên cứu trong nước 1. Các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị nông lâm sản Tran Thanh Cao và cộng sự (2021) phân tích chuỗi giá trị sản pham đồ gỗ xuất khẩu sử dụng nguyên liệu gỗ keo cùng Nam Bộ. Nghiên cứu sử dụng lý thuyết chuỗi giá trị của Kaplinsky and Morris (2000), phương pháp liên kết chuỗi giá trị GTZ (2007).
Các công cụ sử dung gồm: lập sơ đồ chuỗi giá trị, phân tích kinh tế chuỗi và phân tích SWOT. Dữ liệu sơ cấp được sử dụng gồm 123 quan sát tại các tỉnh Cà Mau, Đồng Nai và Bình Dương, phương pháp chọn mẫu phi xác suất. Kết quả cho thấy, chuỗi giá trị sản phâm đồ gỗ xuất khâu (gỗ keo) gồm 6 chức năng chính với 15 tác nhân tại 4 kênh thị trường. Áp dụng phương pháp SWOT cho thấy chuỗi giá trị có II thuận lợi và đối mặt với 13 khó khăn.
Do đó, đề xuất nâng cấp chuỗi gồm: Cải thiện tiêu chuẩn và chất lượng sản phẩm; giảm chỉ phí sản xuất; đầu tư tăng sản lượng, giảm thâm hụt lao động, cải thiện hệ thống phân phối. Chuỗi giá trị toàn cầu: Phan Thị Thanh Huyền (2021) nghiên cứu về sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu đối với ngành nông nghiệp. Tác giả sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp; thu thập đữ liệu sơ cấp thông qua các cuộc phỏng vấn, phương pháp chọn mẫu. Kết quả nghiên cứu thể hiện được tổng quan các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu, các chủ đề nghiên cứu chính, đặc điểm chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp và tác động của chúng, phân tích sự tham gia của doanh nghiệp ngành nông nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu giai đoạn 2008-2019.
Từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách cho doanh nghiệp Việt Nam và Chính phủ. Liên kết trong chuỗi giá trị: Hoàng Vũ Quang (2021) nghiên cứu về ảnh hưởng trong liên kết chuỗi giá trị đối với sự phát triển của hợp tác xã (viết tắt là HTX) nông nghiệp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu; điều tra khảo sát (gồm 64 HTX, trong đó 2§ HTX nông nghiệp và 175 thành viên tham gia). Kết quả 7 nghiên cứu cho thấy: Chuỗi giá trị nông nghiệp cung cấp một số lợi ích đối với HTX gồm mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh; tăng doanh thu và thu nhập, nâng cao năng lực của cán bộ quản lý; nâng cao vai trò, vi thế; tạo thuận lợi nhận các hỗ trợ của Nhà nước.
Do đó, thúc day hợp tác xã phát triển và tham gia chuỗi giá trị là một giải pháp tốt. Nguyễn Hữu Huân và cộng sự (2021) nghiên cứu nhằm lập cơ sở hình thành liên kết vùng trong chuỗi giá trị nông lâm nghiệp ở khu vực sông Ba và sông Kôn (vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ). Hai chuỗi giá trị được nghiên cứu thí điểm gồm chuỗi giá trị gỗ rừng trồng và chuỗi giá trị mía đường. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: phương pháp thu thập và phân tích số liệu (37 huyện, thị xã); phương pháp đánh giá nhanh (PRA) (kết hợp với khảo sát tại 30 trang trại, hộ trồng rừng, 4 công ty lâm nghiệp, 2 công ty chế biến gỗ); phương pháp SWOT và phương pháp phân tích không gian GIS (số liệu trích năm 2017).
Kết quả nghiên cứu cho thấy, vùng nguyên liệu gỗ và mía tại khu vực nghiên cứu có tiềm năng lớn. Đã hình thành một số mô hình liên kết gắn kết từ đầu vào đến đầu ra. Liên kết giữa lưu vực hai sông được xác định theo các tuyến giao thông chính như QL19, 19C, 25, 29. Nâng cấp chuỗi giá trị: Dương Thị Tuyên và cộng sự (2021) nghiên cứu về chuỗi giá trị cây chuối ở huyện Hướng Hoá tỉnh Quảng Trị.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị để phân tích.