MỞ ĐẦU GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Cây lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là cây chủ lực, góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và cung cấp lúa gạo cho thị trường thế giới. Đóng góp hơn 50% sản lượng lúa của Việt Nam và cung cấp khoảng trên 90% lượng gạo xuất khẩu. Do đó, các doanh nghiệp chế biến lúa gạo được quan tâm nhiều trong các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông dân và nông thôn hiện nay.
Đặc biệt năm 2015, Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) có hiệu lực, các hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam với khối lượng lớn, nhất là lĩnh vực chế biến lương thực thực phẩm, cụ thể là cạnh tranh với thị trường lúa gạo Thái Lan gia nhập vào Việt Nam. Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích gieo trồng lúa chiếm 56% sản lượng lúa của cả nước. Hàng năm, ngành hàng lúa gạo ĐBSCL xuất khẩu từ 6-7 triệu tấn, chiếm đến 95% tổng sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước (Cục Trồng trọt, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2014). Nhờ vào lợi thế của điều kiện tự nhiên thích hợp nên cây lúa vùng ĐBSCL ngày càng phát triển về năng suất và sản lượng, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đảm bảo sản lượng gạo xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Riêng thành phố Cần Thơ cây lúa không phải là cây chủ lực trong nông nghiệp, nhưng Cần Thơ rất phát triển ngành công nghiệp xay xát chế biến lúa gạo và đóng góp vào giá trị xuất khẩu hàng năm. Bên cạnh đó, ở một số huyện vẫn còn diện tích trồng lúa tương đối lớn như huyện Vĩnh Thạnh – Thới Lai – Cờ Đỏ. Góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương và tạo ra sự liên kết chuỗi lúa gạo với các tỉnh lân cận. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy chuỗi giá trị gạo ĐBSCL nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng trong thời gian qua chủ yếu gồm các khâu sản xuất, phân phối, tiêu thụ và hỗ trợ.
Đồng thời, chuỗi giá trị lúa gạo cũng tồn tại một số điểm yếu như hoạt động chuỗi còn qua rất nhiều khâu trung gian, quản lý chuỗi cung ứng kém hiệu quả, giá trị gia tăng của toàn ngành hàng thấp, đời sống nông hộ trồng lúa chưa được cải thiện (Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son, 2011). Bên cạnh đó, do sản xuất nhỏ, manh mún, không có kế hoạch chung, bán qua nhiều tác nhân trung gian trong chuỗi ngành hàng nên nông dân chịu rủi ro và tổn thất lớn trong chuỗi ngành hàng lúa gạo (Võ Thị Thanh Lộc và Lê Nguyễn Đoan Khôi, 2011). Sản lượng lúa không ngừng tăng lên qua các năm còn là nguy cơ khiến đất trồng bị thoái hóa, ô nhiễm môi trường tăng cao (Nguyễn Đức Thành và cộng sự, 2015) và cũng như xác định các yếu tố giá 2 thành sản phẩm lúa để làm cơ sở định giá mua/bán đảm bảo nông dân có lãi hợp lý (Trần Thế Như Hiệp, 2013). Xuất phát từ tình hình trên, đề tài “Giải pháp nâng cấp các khâu trong chuỗi giá trị lúa gạo tại địa bàn thành phố Cần Thơ” được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến các tác nhân trong từng khâu của chuỗi giá trị, đưa ra giải pháp nâng cấp các khâu trong chuỗi, đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.
2 Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu tổng quát Phân tích hiệu quả hoạt động của các tác nhân tham gia các khâu trong chuỗi giá trị lúa gạo tại thành phố Cần Thơ từ đó đề xuất giải pháp nâng cấp các khâu trong chuỗi giá trị lúa gạo tại địa bàn thành phố Cần Thơ.2 Mục tiêu cụ thể Đề tài nhằm giải quyết các mục tiêu cụ thể sau đây: (i) mô tả thực trạng sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên địa bàn thành phố Cần Thơ. (ii) phân tích hoạt động của các tác nhân và các khâu trong chuỗi giá trị lúa gạo của thành phố Cần Thơ. (iii) đề xuất giải pháp nâng cấp các khâu trong chuỗi giá trị lúa gạo tại thành phố Cần Thơ. Câu hỏi nghiên cứu Để thực hiện tốt mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: - Thực trạng sản xuất và thị trường tiêu thụ lúa gạo trên địa bàn thành phố Cần Thơ hiện tại như thế nào? - Chuỗi giá trị lúa gạo tại Cần Thơ gồm các khâu nào? Tại mỗi khâu có những tác nhân nào tham gia và hiệu quả hoạt động của họ như thế nào? Những thuận lợi khó khăn của chuỗi lúa gạo trên địa bàn thành phố Cần Thơ? - Cần thực hiện các giải pháp nào để nâng cấp các khâu trong chuỗi giá trị lúa gạo trên địa bàn thành phố Cần Thơ? 4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các khâu và các tác nhân trong chuỗi giá trị lúa gạo tại địa bàn thành phố Cần Thơ, gồm các nhà cung cấp đầu vào, hộ nông dân 3 trồng lúa, thương lái thu gom, nhà máy xay xát và chế biến lúa gạo, mạng lưới tiêu thụ, các tổ chức hỗ trợ chuỗi giá trị lúa gạo trên địa bàn thành phố Cần Thơ.2 Phạm vi nghiên cứu 4.1 Vùng nghiên cứu Địa bàn nghiên cứu là thành phố Cần Thơ.
Đối với nhóm tác nhân sản xuất lúa tác giả nghiên cứu tập trung ở các huyện có diện tích sản xuất nông nghiệp của thành phố Cần Thơ gồm Vĩnh Thạnh, Thới Lai và Cờ Đỏ. Thời gian nghiên cứu Các số liệu thứ cấp liên quan đến chuỗi giá trị lúa gạo được thu thập trong giai đoạn từ năm 2015- 2018. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn triển khai từ tháng 7/2018 đến tháng 10/2018. Phương pháp nghiên cứu 5.1 Phương pháp tiếp cận Nghiên cứu được thực hiện dựa trên tiếp cận lý thuyết chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris (2001) và Eschborn GTZ (2007).
Cách tiếp cận của các tác giả này tập trung giải quyết ba nội dung chủ yếu của chuỗi giá trị gồm lập bản đồ chuỗi giá trị, lượng hóa và mô tả chi tiết chuỗi giá trị, và phân tích kinh tế đối với chuỗi giá trị và tiếp cận phân tích ma trận SWOT để phân tích thuận lợi, khó khăn; điểm mạnh và điểm yếu của các khâu trong chuỗi giá trị để đề xuất các giải pháp nâng cấp chuỗi.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 5.1 Số liệu thứ cấp Số liệu thứ cấp từ các sở, ban, ngành, quận, huyện tại thành phố Cần Thơ có liên quan đến khâu sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, bao gồm: - Nguồn số liệu thứ cấp niên giám thống kê mới nhất, báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Cần Thơ, Sở Công Thương thành phố Cần Thơ, các huyện Thới Lai, Vĩnh Thạnh và Cờ Đỏ của thành phố Cần Thơ và các đơn vị có liên quan về tình hình sản xuất lúa gạo trên địa bàn thành phố Cần Thơ. - Các báo cáo khoa học, dự án, tham luận qua các cuộc hội thảo,… 5.2 Số liệu sơ cấp + Hình thức phỏng vấn: - Phỏng vấn nhà quản lý, chuyên gia bằng bảng câu hỏi bán cấu trúc về sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, các nhà lãnh đạo hoạch định chiến lược phát triển kinh tế của thành phố Cần Thơ. - Phỏng vấn trực tiếp từng tác nhân tham gia chuỗi bằng bảng câu hỏi cấu trúc. 4 + Cỡ mẫu phỏng vấn: Trên cơ sở tham khảo phương pháp chọn mẫu, cỡ mẫu của các tác giả Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2011); Võ Thị Thanh Lộc và Lê Nguyễn Đoan Khôi (2011); Trần Thế Như Hiệp (2013), đề tài phỏng vấn các tác nhân ở các khâu trong chuỗi giá trị lúa gạo bao gồm: - Đối với cửa hàng vật tư nông nghiệp: phỏng vấn 15 cửa hàng; - Đối với hộ sản xuất lúa: phỏng vấn 90 hộ dân sản xuất lúa tại 03 huyện Vĩnh Thạnh –Thới Lai - Cờ Đỏ; 15 tổ hợp tác; 15 hợp tác xã; 15 cánh đồng lớn sản xuất lúa; - Đối với thương lái thu gom: phỏng vấn 20 thương lái; - Đối với doanh nghiệp chế biến lúa gạo và cơ sở xay xát lúa gạo: phỏng vấn 15 đơn vị; - Đối với cửa hàng bán sỉ và lẻ gạo: phỏng vấn 10 đơn vị; - Đối với người tiêu dùng gạo: phỏng vấn 30 người tiêu dùng.1 Cơ cấu quan sát mẫu chuỗi cung ứng lúa gạo tại Cần Thơ Khâu Tác nhân Cỡ Phương pháp mẫu phỏng vấn và chọn mẫu Đầu vào Cửa hàng vật tư nông nghiệp 10 Phỏng vấn trực Cửa hàng giống lúa 5 tiếp bằng bảng Sản xuất Nông dân trồng lúa tại 3 huyện Thới 90 câu hỏi, chọn mẫu phi xác xuất Lai, Cờ Đỏ và Vĩnh Thạnh (mỗi huyện 30 hộ) Tổ hợp tác trồng lúa 15 Hợp tác xã trồng lúa/cánh đồng lớn 15 Thu gom Thương lái cấp 2 10 Thương lái cấp 1 10 Chế biến Nhà máy xay xát lúa gạo 15 Doanh nghiệp chế biến lúa gạo 10 Thương Các điểm bán sỉ và lẻ gạo 15 mại Tiêu thụ Người tiêu dùng gạo 30 Hỗ trợ Nhà quản lý 10 Thảo luận trực chuỗi Chuyên gia 5 tiếp Nguồn: Đề xuất của tác giả 5 5.3 Phương pháp phân tích số liệu 5.1 Phương pháp thống kê mô tả Phân tích thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả, trình bày số liệu, lập bảng phân phối tần số, hình.
Đây là cơ sở để tổng hợp và phân tích cơ bản các dữ liệu được thu thập trên tất cả các tác nhân tham gia chuỗi.2 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị Theo tiếp cận lý thuyết chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris (2001) và GTZ (2007); Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2011); Võ Thị Thanh Lộc và Lê Nguyễn Đoan Khôi (2011); Trần Thế Như Hiệp (2013), đề tài sử dụng các phương pháp phân tích chuỗi giá trị bao gồm: Hạch toán và phân tích chi phí đầu vào, giá trị tăng thêm, doanh thu, lợi nhuận thuần của mỗi tác nhân, giá trị tăng thêm bình quân của mỗi tác nhân, lợi nhuận bình quân của mỗi tác nhân, trong đó: * Chi phí đầu vào được xác định là tổng chi phí mỗi tác nhân phải bỏ ra để sản xuất ra sản phẩm, hàng hóa. Ví dụ: chi phí đầu vào của người nông dân là toàn bộ chi phí phải bỏ ra để mua giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuê mướn công lao động, chi phí nhân công và máy móc ở các khâu làm đất, phun thuốc, chăm sóc, thu hoạch,.