Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu. Giới thiệu chung về vấn đề cần nghiên cứu có liên quan, nêu sự cần thiết phải nghiên cứu; đưa ra được mục tiêu, đối tượng cần nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết. Tổng hợp lý thuyết về áp dụng khoa học công nghệ của các doanh nghiệp như: Các khái niệm; đặc điểm của việc áp dụng khoa học công nghệ; Vai trò của khoa học công nghệ đối với phát triển công nghiệp; Tầm quan trọng của áp dụng khoa học công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp; Khái niệm đầu tư; Đặc trưng của sản xuất công nghiệp.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng khoa học công nghệ của doanh nghiệp chế biến nông sản - thủy sản, đồng thời lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Thông qua các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến đề tài và thực trạng của địa phương, bằng các phương pháp đã học, tác giả sử dụng mô hình Probit để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chế biến nông sản - thủy sản tại Kiên Giang. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Qua thực trạng tại địa phương và kết quả phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả các dữ liệu thu thập được bằng phần mềm Stata và Excle. Sau cùng là chạy kết quả mô hình Probit, kết quả nghiên cứu chỉ ra các yếu tố: Tuổi doanh nghiệp; Nguồn vốn của doanh nghiệp; Giảm chi phí sản 7 xuất; Quy mô doanh nghiệp; Chính sách đổi mới công nghệ; Chính sách đào tạo; Chính sách thị trường; Nâng cao chất lượng; Cạnh tranh; Trình độ lao động; Tác dụng của tín dụng; Tác dụng giảm ô nhiễm môi trường; Khoản cách có ảnh hưởng như thế nào đến việc áp dụng khoa học công nghệ của các doanh nghiệp. Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. Từ thực tế và kết quả nêu trên tác giả đưa ra yêu cầu cấp thiết cần xây dựng một chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm của tỉnh để rà soát, đánh giá thực trạng ứng dụng khoa học công nghệ trong một số ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh.
Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, biện pháp, kế hoạch cụ thể để có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong đổi mới ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao trình độ công nghệ cho các ngành công nghiệp, làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm so với các sản phẩm trong nước và khu vực. 8 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Lược khảo lý thuyết. Lý luận về khoa học Theo Luật khoa học và công nghệ Việt Nam năm 2013: Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.
Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội. Phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới. Lý luận về công nghệ Theo Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin.
Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ. Theo luật Khoa học và công nghệ Việt Nam năm 2013, Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Như vậy công nghệ có thể hiểu là tập hợp những hiểu biết để tạo ra các giải pháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất và đời sống. Ngày nay công nghệ thường được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm.
Phần cứng đó là trang thiết bị. Phần 9 mềm bao gồm (thành phần con người thành phần thông tin, thành phần tổ chức) bất kỳ quá trình sản xuất nào đều phải đảm bảo bốn thành phần trên mỗi thành phần đảm nhiệm những chức năng nhất định. Công nghệ và áp dụng đổi mới công nghệ Trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá người ta quan tâm đến công nghệ là các phương pháp giải pháp kỹ thuật trong các dây truyền sản xuất. Từ khi xuất hiện các quan hệ thương mại thì công nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng hơn.
Có thể hiểu công nghệ là tổng hợp các phương tiện kỹ thuật, kỹ năng, phương pháp dùng để chuyển hóa các nguồn lực thành một loại sản phẩm nào đó. Công nghệ gồm 4 thành phần cơ bản. - Công cụ, máy móc, thiết bị, vật liệu. Nó gọi là phẩn cứng của công nghệ.
- Thông tin, phương pháp, quy trình bí quyết. - Tổ chức điều hành, phối hợp, quản lý. - Con người. Quan điểm chung của công nghệ là các phương pháp khoa học và các vật liệu được sử dụng để đạt được mục tiêu thương mại hoặc công nghiệp.
Do đó, công nghệ thông thường kết hợp các kết quả khoa học với các kỹ thuật để làm cho khoa học thực hành. Tuy nhiên, công nghệ có thể được hiểu là bao gồm bí quyết và thực tiễn kinh doanh độc đáo. Quy trình đặc trưng cho thương mại hóa công nghệ thường được tranh cãi để nắm bắt các hành động và các thành phần như thu thập ý tưởng, tăng thêm kiến thức bổ sung và chuyển đổi chúng thành lợi ích kinh tế. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ Khoa học, công nghệ là sản phẩm của tư duy và của lao động được định hướng bởi tư duy đó.
Ngày nay khi nói đến công nghệ người ta hiểu ngay trong nó có khoa học. Trong công nghệ trí tuệ, tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Ngược lại, những tri thức khoa học hiện đại không thể có được nếu thiếu sự trợ giúp của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin trong thời kỳ đại công nghiệp 10 lần thứ tư của thế giới. Khoa học tạo cơ sở lý thuyết và phương pháp cho ứng dụng, triển khai công nghệ mới vào sản xuất, đời sống.
Nếu khoa học cơ bản vạch ra những nội dung chủ yếu của công nghệ, thì khoa học ứng dụng có vai trò cụ thể hoá lý luận của khoa học cơ bản vào phát triển công nghệ, đưa lại hiệu quả kinh tế - xã hội trực tiếp. Ngược lại, công nghệ là cơ sở để tổng quát hoá thành những nguyên lý khoa học. Công nghệ còn tạo ra phương tiện làm cho khoa học có bước tiến dài. Khoa học càng gần với hoạt động sản xuất và đời sống thì ứng dụng, triển khai công nghệ càng mang tính trực tiếp nhiều hơn.
Những thành tựu của khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống chứ không riêng gì trong sản xuất. Vai trò quan trọng của khoa học công nghệ ngày càng được khẳng định. Đặc trưng của sản xuất công nghiệp Đặc trưng về công nghệ sản xuất, trong công nghiệp chủ yếu là quá trình tác động trực tiếp bằng phương pháp cơ lý hoá của con người, làm thay đổi các đối tượng lao động thành những sản phẩm thích ứng với nhu cầu của con người. Trong công nghiệp hiện nay, phương pháp sinh học cũng được ứng dụng rộng rãi, đặc biệt là công nghiệp thực phẩm.
Các đối tượng lao động của quá trình sản xuất công nghiệp sau mỗi chu kì sản xuất được thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng cụ thể này chuyển sang các sản phẩm có công dụng cụ thể hoàn toàn khác, nghiên cứu đặc trưng này của sản xuất công nghiệp có ý nghĩa thực tiễn rất thiết thực trong việc khai thác và sử dụng nguyên liệu. Vậy sản xuất công nghiệp là hoạt động sản xuất duy nhất tạo ra những sản phẩm thực hiện chức năng là các tư liệu lao động trong các ngành kinh tế. Vai trò của khoa học công nghệ đối với phát triển công nghiệp Công nghệ là yếu tố cơ bản của sự phát triển công nghiệp, tiến bộ KHCN, đổi mới 11 công nghệ là động lực của phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành. Thúc đẩy sự hình thành và phát triển các ngành mới, cơ cấu ngành sẽ đa dạng và phong phú, phức tạp hơn; các ngành có hàm lượng KHCN cao sẽ phát triển nhanh hơn so với các ngành truyền thống hao tốn nhiều nguyên liệu, năng lượng.
Đối với doanh nghiệp khoa học công nghệ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm mới, đa dạng hoá sản phẩm, tăng sản lượng, tăng năng suất lao động, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên liệu. Nhờ vậy, sẽ tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nhờ vào lợi thế chi phí, khác biệt hóa sản phẩm và quản lý tốt đầu vào, đầu ra. Giải quyết được các nhiệm vụ bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện sống và làm việc, giảm lao động nặng nhọc, độc hại, biến đổi cơ cấu lao động theo hướng: nâng cao tỷ trọng lao động chất xám, lao động có kỹ thuật, giảm lao động phổ thông, lao động giản đơn. Tạo ra những khả năng sản xuất mới, đẩy nhanh nhịp độ phát triển một số ngành, làm tăng tỷ trọng của chúng trong cơ cấu công nghiệp, mà còn tạo ra những nhu cầu mới.
Tầm quan trọng của áp dụng khoa học công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp Doanh nghiệp công nghiệp tạo ra những sản phẩm bằng cách sử dụng những thiết bị máy móc để khai thác hoặc chế biến nguyên vật liệu thành phẩm mà khoa học công nghệ có vai trò quyết định trong việc trang bị và trang bị lại các máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, tiên tiến.