đặt vấn đề, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, kết cấu của bài luận văn. Trình bày các cơ sở lý thuyết của bài luận văn và tóm lược các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày các vấn đề về phương pháp để thực hiện nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu xây dựng mô hình nghiên cứu.
Kết quả và phân tích. Phân tích và so sánh hiệu quả sản xuất lúa giữa nhóm hộ trong mô hình CĐL bằng phương pháp kiểm định t-test và phương pháp PSM. Kết luận và kiến nghị. 6 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Tổng quan các lý thuyết có liên quan Lý thuyết chính tôi sử dụng làm cơ sở lý luận để nghiên cứu luận văn này là: (1) lý thuyết về hộ nông dân và kinh tế học sản xuất; và (2) lý thuyết về sản xuất theo hợp đồng. Lý thuyết về hộ nông dân và kinh tế học sản xuất 2. Một số khái niệm trong nông nghiệp. Theo Nguyễn Ngọc Nông và cộng sự (2004), nông nghiệp là quá trình sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu cho đời sống con người như lương thực, thực phẩm mà không ngành sản xuất vật chất nào có thể thay thế được.
Ngoài ra, nông nghiệp còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp như công nghiệp chế biến, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp nhẹ khác. Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch. Khái niệm hộ nông dân Trên thế giới nhiều khái niệm về hộ nông dân: Theo Ellis (1988), trích từ Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung (2015) định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao".
7 Nhà nông học Nga - Traianốp (1925) cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định, là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp". Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển (trích bởi Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung, 2015). Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn".
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”. Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001), trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,.) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp". Tuy có nhiều quan niệm về nông hộ nhưng nhìn chung nông hộ là hình thức tổ chức cơ sở của nông nghiệp ở nông thôn đã tồn tại từ lâu đời ở các nước nông nghiệp. Nông hộ bao gồm chủ yếu cha mẹ và con cái, có hộ còn có ông bà và cháu chắt.
Hộ nông dân có thể chuyên trồng trọt, làm nghề rừng, chăn nuôi hoặc nuôi trồng thủy sản. Trong cấu trúc nội tại của nông hộ, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích thực của hộ nên ở nông hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, sử dụng và tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế. Do đó, nông hộ có thể thực hiện cùng một lúc nhiều chức năng mà các đơn vị khác không thể có được. Bản thân mỗi nông dân là một tế bào xã hội, là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng, đơn vị tiêu dùng xét cả khía cạnh cho tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho sinh hoạt.
Khái niệm kinh tế hộ nông dân Theo Vũ Thị Ngọc Trân (1997), kinh tế hộ nông dân và trang trại đã xuất hiện từ lâu, song đến nay vẫn còn những ý kiến và cách hiểu khác nhau về thế nào là kinh tế hộ nông dân và ranh giới để phân biệt hộ nông dân với các hộ khác. Có quan điểm cho rằng, kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế phức tạp xét từ góc độ các quan hệ kinh tế - tổ chức, là sự kết hợp những ngành, những công việc khác nhau trong quy mô hộ gia đình nông dân. Có ý kiến khác lại cho rằng, kinh tế nông hộ bao gồm toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Kinh tế hộ thể hiện được các loại hộ hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ nông nghiệp, hộ nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp, ngư nghiệp.
Ellis (1993) cho rằng: Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình. Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động thị trường. Khái niệm hiệu quả sản xuất. Hiệu quả sản xuất là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các nguồn lực sao cho đạt được kết quả tốt nhất.
Để đạt được hiệu quả sản xuất thì người nông dân phải chú ý đến ba yếu tố: (1) không sử dụng nguồn lực lãng phí; (2) sản xuất với chi phí thấp nhất; (3) sản xuất để đáp ứng nhu cầu con người. Lý thuyết tân cổ điển về sản xuất của nông hộ. Theo Ellis (1993), lý thuyết tân cổ điển về sản xuất của nông hộ như sau: a. Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất.
Học thuyết này bắt nguồn từ người nông dân là một cá nhân quyết định các vấn đề như: sử dụng bao nhiêu lao động cho một vụ sản xuất, có nên sử dụng vật tư nông nghiệp cho sản xuất hay không, nên trồng loại cây nào v.v…Học thuyết này 9 nhấn mạnh vào quan điểm là những người nông dân có thể thay đổi mức độ và chủng loại của các vật tư và sản phẩm nông nghiệp. Người ta thừa nhận ba mối quan hệ giữa nguồn lực và sản phẩm nông nghiệp và ba mối quan hệ này cũng phù hợp với ba giai đoạn xây dựng học thuyết về xí nghiệp sản xuất nông nghiệp. Ba mối quan hệ đó là: (1) Mức độ thay đổi của sản lượng phù hợp với mức độ thay đổi của nguồn lực sử dụng trong sản xuất. Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ yếu tố - sản phẩm hay là mối quan hệ giữa nguồn lực - sản lượng (input và output).
Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ sản phẩm - sản phẩm. Khi đặt ra vấn đề giới hạn lại các mục đích của gia đình nông dân và các hạn chế tiềm năng của nông trại tư nhân thì yêu cầu nền sản xuất nông nghiệp phải được tổ chức lại. Trong thực tế, các gia đình nông nghiệp có thể có nhiều mục đích khác nhau như ổn định thu nhập lâu dài, bảo đảm đủ lương thực cho gia đình, đáp ứng các nhu cầu nhất định trong tiêu dùng, hoàn thành các nghĩa vụ cộng đồng v.v… Học thuyết cơ bản của nền sản xuất nông dân bao gồm hàng loạt các mục đích có thể đạt được và một số hạn chế như không đề cập đến phương tiện tiêu dùng của gia đình nông dân. Tìm hiểu một mục đích duy nhất có thể đạt được tối đa hóa lợi nhuận trong thời gian ngắn hạn.
Chỉ có nông dân là người duy nhất được phép ra quyết định trong nền sản xuất của nông dân. Những giả định khác bao gồm sự cạnh tranh trên các thị trường về sản phẩm, vật tư nông nghiệp và vấn đề mua vật tư phục vụ sản xuất. Hành vi tối đa hóa sản lƣợng và hàm sản xuất. Hàm sản xuất xác định mối quan hệ vật chất giữa sản lượng Y và bất kỳ nguồn lực nông nghiệp (đầu tư cho sản xuất) (x1, x2,… xn).
Hàm sản xuất có dạng tổng quát: Y = f(X1, X2,…, Xn) (2.1) Đặc biệt, điều liên quan là chỉ với một hoặc nhiều biến số nguồn lực (đầu vào), còn các đầu tư khác và tình trạng công nghệ là bất biến, được viết như sau: Y = f(X1, X2,…, Xm/Xn-m) (2.2) X1,…, Xm là các biến số nguồn lực (đầu vào). Phương trình chính xác của hàm sản xuất phụ thuộc vào sự phản ứng của sản lượng đối với nguồn lực dưới dạng nghiên cứu và mức độ trừu tượng qua thực tiễn sản xuất. Tuy nhiên, tất cả các hàm sản xuất phải thỏa mãn hai điều kiện để đảm bảo ý nghĩa kinh tế: sản phẩm tới hạn phải là dương và phải giảm dần. Để thỏa mãn được các điều kiện này thì đạo hàm thứ nhất phải là dương và (dY/dX > 0) và đạo hàm thứ hai phải là âm (Dy2/dX2 < 0) có nghĩa là sự phản ứng của sản lượng đối với các mức độ gia tăng chi phí các nguồn lực phải được tăng lên, song mức tăng phải giảm dần.
Hàm sản xuất cho biết mức sản lượng tối đa được tạo ra ứng với mỗi phương án kết hợp các yếu tố đầu vào cho trước. Các yếu tố đầu vào bao gồm các yếu tố cố định (là những yếu tố được nông dân sử dụng một lượng cố định và nó không ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất như chi phí máy tưới, chi phí máy bơm nước…) và các yếu tố biến đổi (là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất như giống, lao động, phân bón, thuốc nông dược…). Tuy có nhiều dạng hàm sản xuất được ứng dụng trong nghiên cứu thực nghiệm nhưng hàm Cobb-Douglas được sử dụng phổ biến nhất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, có dạng: Y = 0X1b 2X2b …….