Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê ở tỉnh đắk lắk

Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị phân tích quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê tại tỉnh Đắk Lắk, đề xuất giải pháp bền vững.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

214
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ

1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê

1.2. Những luận điểm khoa học kế thừa và những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ

2.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê

2.2. Các mối quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê, tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng

2.3. Kinh nghiệm đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê ở một số quốc gia trên thế giới, địa phương trong nước và bài học cho tỉnh Đắk Lắk

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK

3.1. Khái quát về phát triển chuỗi giá trị cà phê ở tỉnh Đắk Lắk

3.2. Thực trạng quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2015 - 2020

3.3. Đánh giá chung về quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê ở tỉnh Đắk Lắk

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HÀI HÒA LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK

4.1. Dự báo tình hình và quan điểm về đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê tỉnh Đắk Lắk

4.2. Giải pháp đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê ở tỉnh Đắk Lắk

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê

Phần này tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến quan hệ lợi íchchuỗi giá trị cà phê, cả trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu nước ngoài như của V.Ca-man-kin và Ju.Pletnicov đã nhấn mạnh tính khách quan của lợi ích kinh tế và mối quan hệ biện chứng giữa các lợi ích trong xã hội. Trong nước, các nghiên cứu tập trung vào việc phân tích chuỗi giá trị cà phê và các mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể tham gia. Những khoảng trống nghiên cứu cần được tiếp tục khám phá, đặc biệt là trong bối cảnh phát triển bền vữnghội nhập kinh tế quốc tế.

1.1. Các công trình nghiên cứu về quan hệ lợi ích

Các nghiên cứu nước ngoài như của V.Ca-man-kin và Ju.Pletnicov đã phân tích sâu về lợi ích kinh tế, nhấn mạnh tính khách quan và mối quan hệ biện chứng giữa các lợi ích trong xã hội. Trong nước, các nghiên cứu tập trung vào việc phân tích quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị cà phê, đặc biệt là trong bối cảnh phát triển bền vữnghội nhập kinh tế quốc tế.

1.2. Các nghiên cứu về chuỗi giá trị cà phê

Các nghiên cứu trong nước và quốc tế đã phân tích chuỗi giá trị cà phê từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, nhấn mạnh vai trò của người trồng cà phê, doanh nghiệp chế biến, và thị trường cà phê. Những nghiên cứu này cũng chỉ ra các thách thức trong việc đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể, đặc biệt là trong bối cảnh xuất khẩu cà phêphát triển bền vững.

II. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê

Phần này trình bày cơ sở lý luận về quan hệ lợi ích trong chuỗi giá trị cà phê, bao gồm khái niệm, đặc điểm, và ý nghĩa của các mối quan hệ này. Các tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích cũng được phân tích chi tiết. Ngoài ra, phần này cũng đề cập đến kinh nghiệm từ các quốc gia và địa phương khác trong việc đảm bảo hài hòa lợi ích, từ đó rút ra bài học cho Đắk Lắk.

2.1. Khái niệm và đặc điểm của quan hệ lợi ích

Quan hệ lợi ích trong chuỗi giá trị cà phê được định nghĩa là mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào các khâu sản xuất, chế biến, và tiêu thụ cà phê. Các đặc điểm chính bao gồm tính tương tác, phụ thuộc lẫn nhau, và sự cạnh tranh về lợi ích. Các tiêu chí đánh giá bao gồm sự công bằng, hiệu quả kinh tế, và tính bền vững.

2.2. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Đắk Lắk

Các quốc gia như Colombia và Ấn Độ đã áp dụng các chính sách và mô hình hiệu quả để đảm bảo hài hòa lợi ích trong chuỗi giá trị cà phê. Những bài học này có thể được áp dụng tại Đắk Lắk để cải thiện quan hệ lợi ích giữa người trồng cà phê, doanh nghiệp chế biến, và các chủ thể khác trong chuỗi giá trị.

III. Thực trạng quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê ở Đắk Lắk

Phần này phân tích thực trạng quan hệ lợi ích trong chuỗi giá trị cà phê tại Đắk Lắk giai đoạn 2015-2020. Các số liệu và khảo sát cho thấy sự mất cân đối trong phân phối lợi ích giữa người trồng cà phêdoanh nghiệp chế biến. Những mâu thuẫn lợi ích này đã ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành cà phê tại địa phương.

3.1. Khái quát về chuỗi giá trị cà phê tại Đắk Lắk

Đắk Lắk là một trong những tỉnh trọng điểm về sản xuất cà phê tại Việt Nam, với diện tích trồng cà phê lớn và sản lượng xuất khẩu đáng kể. Tuy nhiên, chuỗi giá trị cà phê tại đây vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc phân phối lợi ích giữa các chủ thể.

3.2. Mâu thuẫn lợi ích giữa các chủ thể

Các khảo sát cho thấy người trồng cà phê thường nhận được lợi ích thấp hơn so với doanh nghiệp chế biếnchủ thể thu mua. Sự mất cân đối này đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của chuỗi giá trị cà phê tại Đắk Lắk.

IV. Quan điểm và giải pháp đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê ở Đắk Lắk

Phần này đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích trong chuỗi giá trị cà phê tại Đắk Lắk. Các giải pháp bao gồm tăng cường liên kết giữa các chủ thể, cải thiện chính sách hỗ trợ, và nâng cao năng lực cạnh tranh của người trồng cà phê. Những giải pháp này hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và nâng cao giá trị gia tăng cho chuỗi giá trị cà phê.

4.1. Quan điểm đảm bảo hài hòa lợi ích

Các quan điểm được đề xuất bao gồm việc đảm bảo sự công bằng trong phân phối lợi ích, tăng cường sự tham gia của người trồng cà phê trong chuỗi giá trị, và thúc đẩy phát triển bền vững. Những quan điểm này nhằm tạo ra sự cân bằng và hài hòa giữa các chủ thể tham gia.

4.2. Giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể bao gồm tăng cường liên kết giữa người trồng cà phêdoanh nghiệp chế biến, cải thiện chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương, và nâng cao năng lực cạnh tranh của người trồng cà phê thông qua đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê ở tỉnh đắk lắk

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ 1. Các công trình nghiên cứu bàn về quan hệ lợi ích. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến lợi ích, quan hệ lợi ích Trong cuốn sách “Các lợi ích kinh tế dưới chủ nghĩa xã hội” của tác giả V.Ca-man-kin [3] đã bàn đến những khía cạnh xoay quanh vấn đề liên quan đến LIKT như phân tích tính khách quan của LIKT, mối quan hệ trong các LIKT.

Trong đó, đáng chú ý tác giả đã trình bày quan niệm về LIKT và cho rằng: “Lợi ích kinh tế của một chủ thể nhất định là sự tác động lẫn nhau giữa các nhu cầu kinh tế của chủ thể đó” [3, tr. Như vậy, LIKT có nguồn gốc từ các nhu cầu kinh tế trong những hoạt động của các chủ thể. Trên cơ sở đó, tác giả nhấn mạnh đến vấn đề nhu cầu của con người dưới góc độ kinh tế chứ không phải là nhu cầu chung chung khi nói đến vấn đề lợi ích và LIKT. Cùng với đó, tác giả Ju.Pletnicov với nghiên cứu “Lý luận phản ánh của Lênin dưới ánh sáng của sự phát triển khoa học và thực tiễn” [73] đã nhấn mạnh đến tính khách quan của LIKT và mối quan hệ biện chứng giữa LIKT với các vấn đề khác trong xã hội.

Khi đề cập đến vấn đề này trong nghiên cứu của mình, tác giả đã khẳng định rằng: “Lợi ích quan hệ với mặt khách quan của đời sống xã hội, là hiện tượng khách quan của hiện thực, rằng lợi ích xã hội không thể tồn tại thiếu chủ thể và chính các quan hệ xã hội, những lợi ích xã hội này không phải bởi ý thức chủ thể mà do địa vị xã hội khách quan của họ” [73, tr. Như vậy, khi nói đến LIKT phải luôn gắn liền với những chủ thể nhất định tương ứng với LIKT đó, trên cơ sở đó QHLIKT giữa các chủ thể được hình thành và biểu hiện dưới các LIKT của mỗi chủ thể đó trong xã hội. Trong cuốn sách của V.Lavrinenko với tựa đề Những vấn đề lợi ích xã hội 8 trong chủ nghĩa Lênin [45] đã nghiên cứu khá sâu sắc về vấn đề lợi ích và các mối quan hệ liên quan đến lợi ích. Tác giả đã chỉ ra cơ sở của việc hình thành QHLI trong xã hội đó chính là do mối quan hệ giữa vấn đề nhu cầu và lợi ích, giữa nhu cầu và lợi ích luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau và QHLI chỉ xuất hiện khi có quan hệ nhu cầu giữa các chủ thể trong xã hội.

Mặt khác, nghiên cứu cho rằng LIKT có tính khách quan và chỉ rõ: “Lợi ích là mối quan hệ khách quan của sự tự khẳng định xã hội của chủ thể” [45, tr.16], quan điểm này của V.Lavrinenko cũng tương đồng với những quan điểm trước đó của các nghiên cứu về LIKT. Trong nghiên cứu Innovation, Cooperation, and the Perceived Benefits and Costs of Sustainable Agriculture Practices (Đổi mới, hợp tác và sự nhận thức về lợi ích và chi phí của việc thực hiện nông nghiệp bền vững) của nhóm tác giả Mark Lubell, Vicken Hillis và Matthew Hoffman [129] đã nhấn mạnh đến vai trò của sự hợp tác, liên kết trong nông nghiệp để cùng nhau mang lại LIKT, môi trường và xã hội, nhất là đối với LIKT của người nông dân. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực trạng đối với một số ngành sản xuất trong nông nghiệp phổ biến như khảo sát người nông dân trồng nho cho hoạt động sản xuất rượu vang, tác giả đã tiến hành định lượng về chi phí và lợi ích của các hoạt động trồng nho được sản xuất theo các chương trình chứng nhận và phát triển bền vững. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc không đảm bảo hài hòa giữa LIKT, lợi ích môi trường và chi phí kinh tế sẽ làm tăng chi phí và giảm LIKT trong dài hạn.

Do đó, nghiên cứu cho rằng để giải quyết thực trạng này và góp phần thực hiện LIKT cho người nông dân cần phải không ngừng đổi mới, tăng cường hợp tác và cập nhật những kiến thức để nâng cao LIKT cho người nông dân. Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến lợi ích, quan hệ lợi ích. * Một là, những công trình nghiên cứu về lợi ích, lợi ích kinh tế Lợi ích, LIKT là một trong những vấn đề được các tác giả trong nước quan tâm nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau. Trong cuốn sách “Bàn về các lợi ích kinh tế” của nhóm tác giả gồm Đào Duy Tùng, Phạm Thành, Vũ Hữu Ngoạn, Lê Xuân Tùng, Nguyễn Duy Bảy [100] đã đưa ra các quan niệm và phân tích vấn đề LIKT ở các góc độ khác nhau.

Trước hết, khi bàn về vai trò của LIKT, các tác giả đều thống nhất cho 9 rằng “Lợi ích kinh tế là một trong những động lực cơ bản, phổ biến của sự phát triển không ngừng của sản xuất và đời sống xã hội” [100, tr. Bên cạnh đó, khi luận giải yếu tố khách quan của vấn đề LIKT nhóm tác giả cũng đồng tình với các nghiên cứu trước rằng “Lợi ích kinh tế là phạm trù khách quan, Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện trước hết của quan hệ sản xuất, nó không tùy thuộc vào ý chí, lòng ham muốn của con người” [100, tr.62], nghiên cứu còn khẳng định rằng LIKT có cơ sở từ nhu cầu kinh tế và được thể hiện trong cả bốn khâu của quá trình tái sản xuất gồm sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Ngoài ra, khi bàn về vấn đề LIKT trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhóm tác giả đưa ra ba lợi ích của các chủ thể trong xã hội là lợi ích của người lao động, lợi ích của tập thể và lợi ích của xã hội, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong nghiên cứu của tác giả Chu Văn Cấp về “Lợi ích kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Những hình thức kết hợp và phát triển chúng trong lĩnh vực kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” [5] cho rằng LIKT là mắt khâu không thể tách rời trong cơ chế nội tại của sự phát triển kinh tế, trong cơ chế tác động của các quy luật kinh tế và khẳng định LIKT là một hình thức biểu hiện của các quan hệ sản xuất.

Khi đi sâu phân tích những LIKT trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tác giả đưa ra nhận định một cách đầy đủ rằng, trong thời kỳ quá độ ngoài LIKT của giai cấp nông dân, của giai cấp công nhân, của tập thể và tầng lớp trí thức, những lợi ích này được biểu hiện thông ở lợi ích người lao động, lợi ích của tập thể và của toàn dân. Ngoài ra, trong thời kỳ quá độ còn có những lợi ích khác như lợi ích của các nhà tư bản tư nhân, của những người sản xuất nhỏ cá thể, tồn tại cùng với hệ thống xã hội chủ nghĩa của thời kỳ quá độ và phục thuộc vào nó [5, tr. Những lợi ích này là phức tạp và không đồng nhất, mỗi thành phần kinh tế có những LIKT tương ứng, do đó để phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam nghiên cứu cho rằng các lợi ích trong xã hội cần phải được thống nhất, hài hòa trong quá trình thực hiện theo quan điểm “Cái gì có lợi đối với xã hội, cần phải có lợi đối với tập thể lao động và mỗi người lao động” [5, tr.3] và cần có sự kết hợp giữa các lợi ích, phát triển chúng trên cơ sở giữ vững lợi ích toàn dân. Theo Phạm Thị Thương [93], LIKT chính là yếu tố gắn kết giữa người lao động với doanh nghiệp, LIKT là một phạm trù kinh tế khách quan, là hình thức 10 biểu hiện mối quan hệ giữa người lao động với các chủ thể khác tham gia hoạt động trong doanh nghiệp [93, tr.

Tác giả đã phân tích nội dung LIKT của người lao động với các hình thức biểu hiện gồm: thu nhập bằng tiền của người lao động với hình thức biểu hiện là tiền lương, khoản tiền thưởng và phụ cấp cho người lao động; được làm việc của người lao động được biểu hiện thông qua tình trạng làm việc; được bảo vệ an toàn và vệ sinh lao động; nâng cao trình độ khi làm việc và được thể hiện thông qua quá trình đào tạo, đào tạo lại và nâng cao tay nghề; tham gia chế độ bảo hiểm và các chế độ bảo hiểm; hỗ trợ nhà ở và phương tiện đi lại. Trong nghiên cứu của Phạm Quốc Quân [78], đã chỉ ra những bất cập trong việc phân phối đảm bảo lợi ích của người nông dân khi tham gia CGT hàng hóa nông sản như: giá trị gia tăng thấp mặc dù sản lượng trong ngành nông nghiệp tăng; tình trạng nông dân được mùa rớt giá, bị thương lái ép giá, nông dân chính là người trực tiếp sản xuất ra hàng hóa nhưng lại là người hưởng lợi ít nhất,…dẫn đến LIKT của người nông dân chưa được đảm bảo. Tác giả đã luận giải và chỉ ra 4 nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp còn hạn chế; chi phí đầu vào và các khoản phí nông nghiệp khác ngày càng tăng trong khi giá cả nông sản bấp bênh; sự thiếu chặt chẽ trong liên kết giữa các tác nhân trong CGT hàng hóa nông sản và một số chính sách đầu tư, hỗ trợ phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp của Nhà nước chưa thật sự đi vào cuộc sống. Tác giả Nguyễn Thị Minh Loan với nghiên cứu Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội [51] cho rằng LIKT của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa người lao động với chủ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và phản ánh những nhu cầu, động cơ khách quan của người lao động khi tham gia vào các hoạt động kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê tại Đắk Lắk" tập trung phân tích mối quan hệ lợi ích giữa các bên tham gia trong chuỗi giá trị cà phê, từ nông dân, doanh nghiệp đến các tổ chức hỗ trợ. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của chuỗi giá trị mà còn đề xuất các giải pháp nhằm cân bằng lợi ích, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội cho ngành cà phê tại Đắk Lắk. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm đến phát triển nông nghiệp bền vững.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các nghiên cứu liên quan như Khóa luận tốt nghiệp pháp luật về tài trợ tín dụng chuỗi giá trị nông sản tại Việt Nam liên hệ hiện trạng tài trợ chuỗi giá trị nông sản tại Tây Nguyên, Luận án tiến sĩ đầu tư công cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nhãn ở tỉnh Hưng Yên, và Luận án tiến sĩ nghiên cứu cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn ở thành phố Hà Nội. Mỗi tài liệu đều mang đến góc nhìn sâu sắc và giải pháp cụ thể cho các vấn đề liên quan đến chuỗi giá trị nông sản.