Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP 1. Một số khái niệm cơ bản về khen thưởng, chính sách khen thưởng và người lao động 1. Khen thưởng Khen thưởng là khái niệm không xa lạ, bởi khái niệm này được tiếp cận ở nhiều văn bản về thi đua, khen thưởng qua từng thời kỳ khác nhau. Khen thưởng được hiểu chung là việc làm của một cá nhân, tổ chức một cách chính thức đối với đối tượng có thành tích nào đó.
Trong lịch sử đất nước, việc khen thưởng thường diễn ra rất đa dạng như: “Khen thưởng người có công trong chiến trận, người có công trong việc đi sứ, người phò tá có công lao tài đức, người tiến cử người hiền tài, người có lời tâu đúng, người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người quyền quý cấp trên, người có công làm thuỷ lợi, người có tài văn chương, người cao tuổi”[1]. Hình thức khen thưởng cũng rất đa dạng. Nếu còn sống người được khen thưởng có thể nhận được một trong các hình thức: Được ban họ vua (Quốc thính), được ghi công vào sử sách, được vẽ hình, được dựng bia ghi công, được phong chức, được thưởng vàng bạc, được cấp ruộng đất. Nếu người có công đã mất thì vua đích thân làm văn tế, giảm ăn, nghỉ coi trầu một số ngày, truy phong, truy tặng hoặc gửi vàng bạc, lụa để viếng, phong quan chức cho con, cấp ruộng cho con cháu thờ cúng.
Đối tượng khen thưởng rất rộng, từ người già đến trẻ em, từ nam giới đến nữ giới, từ người Kinh đến người dân tộc thiểu số đều được khen thưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc khen thưởng, Người nêu rõ: “Thưởng phạt phải nghiêm minh, có công thì thưởng, có lỗi thì phạt; có công mới có huân, phải có công huân mới được thưởng huân chương, thưởng cái nào đích 8 đáng cái ấy khen thưởng phải có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương”[28, tr. Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 26/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Quốc lệnh 10 điều thưởng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, gồm: “1. Nhà nào có 3 con tòng quân sẽ được thưởng.
Ai lập được quân công sẽ được thưởng. Ai vì nước hy sinh sẽ được thưởng. Ai ra trận can đảm phi thường sẽ được thưởng. Ai làm việc một cách trong sạch, ngay thẳng sẽ được thưởng.
Ai làm việc gì có lợi cho nước nhà, dân tộc, được dân chúng mến phục sẽ được thưởng. Ai bỏ tiền ra xây đắp cầu cống, đê, đường sẽ được thưởng. Ai bắt được những kẻ phản quốc sẽ được thưởng. Ai liều mình về công việc sẽ được thưởng.
Ai cứu được người bị nạn sẽ được thưởng.19] 10 điều khen thưởng này chính là nền tảng tư tưởng, nguyên tắc pháp lý chỉ đạo việc khen thưởng trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước và trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường nhắc cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”[29]. Sau đó, năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần lượt ký các Sắc lệnh thành lập Viện Huân chương, ban hành Sắc lệnh đặt ra các Huân chương Quân công, Huân chương Chiến sĩ, Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập. Năm 1948 đặt ra Huân chương Kháng chiến, năm 1959 đặt ra Huân chương Lao động.
Chính phủ cũng đã quy định các danh hiệu Anh hùng Quân đội, Anh hùng Nông nghiệp, Anh hùng Công nghiệp năm 1952 để khen thưởng kịp thời những cá nhân và đơn vị có thành tích trong cuộc kháng chiến kiến quốc. 9 Từ thực tiễn lịch sử trên đây, khen thưởng được hiểu là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để nhận xét, đánh giá về một tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc, có công đối với đất nước trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua khen thưởng năm 2013, tại Khoản 2, Điều 3 định nghĩa về khái niệm khen thưởng như sau: “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Khen thưởng là một trong những nội dung và hình thức không thể thiếu trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhằm ghi nhận, biểu dương, tôn vinh thành tích, công trạng, quá trình hoạt động đóng góp của tập thể và cá nhân trong xây dựng, phát triển cơ quan, đơn vị và bảo vệ Tổ quốc.
Người lao động trực tiếp Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thức về người lao động trực tiếp. Trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước Việt Nam, các khái niệm về lao động trực tiếp, lao động gián tiếp, người lao động, cán bộ quản lý, người lao động trực tiếp đã được đề cập và sử dụng ở các mức độ sau đây: Theo Bộ Luật lao động và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật lao động và một số công trình nghiên cứu [2] thì khái niệm “người lao động” là dùng để chỉ một đối tượng chung là người làm công ăn lương, người trực tiếp sử dụng sức lao động để tạo ra sản phẩm, của cải, cụ thể có thể hiểu dưới các góc độ dưới đây: Người lao động là người làm công ăn lương, là lao động phổ thông như: Người công nhân, nông dân, thợ (thợ cả, thợ phụ, thợ lành nghề, thợ chưa lành nghề), người làm thuê, người giúp việc. Người lao động là người làm công ăn lương là người lao động trí thức như: công chức, viên chức, cán bộ, các chuyên gia trong các ngành, lĩnh vực khác nhau như công nghệ, kinh tế, ngoại thương, ngoại giao. Đặc điểm của người lao động là “bán công sức”, có thể là sức khỏe, trí tuệ.
để làm ra của cải vật chất hoặc các sản phẩm mang tính sáng tạo, mang tính đặc thù 10 như là “lao động mềm trong nền công vụ” phục vụ cho người thuê lao động (chủ lao động). Các công việc được thuê làm đối với người lao động này thường được tuân thủ bởi các hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc (bằng miệng hoặc văn bản) hoặc các quyết định tuyển dụng của cơ quan quản lý nhà nước. để họ làm việc, đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng. - Có thể nhìn nhận khái niệm “Người lao động trực tiếp” dưới các góc độ khác nhau như: + Nhìn dưới góc độ lao động, sản xuất, người lao động trực tiếp có thể được hiểu là: Người làm ra sản phẩm cụ thể, trực tiếp cầm, nắm, sản xuất hoặc điều khiển trực tiếp để tạo ra sản phẩm.
Người lao động trực tiếp là những người lao động bình thường trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, như công nhân lao động trực tiếp, người nông dân trực tiếp lao động, canh tác, giáo viên đứng lớp, người nghệ sĩ biểu diễn, người lao động dọn vệ sinh, những hộ lý, điều dưỡng trong các bệnh viện hoặc những người âm thầm, lặng lẽ trực tiếp làm các nhiệm vụ tình nguyện, thiện nguyện. + Nhìn dưới góc độ quản lý nhà nước, người lao động trực tiếp có thể hiểu là cán bộ, công chức, viên chức và không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý; có thể là người làm công ăn lương và được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp trả lương cho họ và không phải là lãnh đạo, quản lý, không phải là đối tượng được hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo theo quy định của nhà nước. Ví dụ như: công chức, viên chức bình thường, giáo viên, bác sĩ, y tá, y sĩ, các văn nghệ sĩ… được hưởng lương từ ngân sách nhà nước nhưng không thuộc diện lãnh đạo quản lý. Nếu so với sản phẩm của người lao động trực tiếp là công nhân, nông dân với sản phẩm của đối tượng là người lao động trực tiếp nhìn nhận dưới góc độ quản lý có phần khác và mang tính đặc thù hơn.
Sản phẩm của họ mang tính trí tuệ và “đầu ra” của sản phẩm là các văn bản tham mưu cho đội ngũ lãnh đạo nhà nước, các ý tưởng đổi mới trong cải cách, tổ chức bộ máy nhà nước, các công việc mang lại hiệu quả lớn cho xã hội như chăm sóc người bệnh, điều chế thuốc, gìn giữ văn hóa cội nguồn dân tộc. 11 Đến nay, khái niệm “người lao động trực tiếp” vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể, chính thức bằng văn bản từ cơ quan quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu. được công nhận hoặc được đông đảo công chúng công nhận về khái niệm này. Từ những quan điểm quy định pháp luật nêu trên, khái niệm “người lao động trực tiếp” có thể hiểu đối ngược với khái niệm “người lao động gián tiếp”.
Người lao động gián tiếp là những người được bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý theo quy định, những người không trực tiếp tạo ra sản phẩm mà chỉ là người có công trong việc đóng góp một phần công sức, hỗ trợ để làm ra sản phẩm đó mà thôi. Ví dụ, trong một môi trường sản xuất máy móc hoặc chế biến, chế tạo sản phẩm, người lao động gián tiếp là người có công hỗ trợ trong việc tạo ra sản phẩm như người quản lý, người hỗ trợ về nhân sự, người thiết kế, người phục vụ. Từ các mô tả trên có thể rút ra đặc điểm người lao động trực tiếp như sau: Là người lao động trực tiếp làm việc ở nhiều môi trường, nhiều công việc khác nhau trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; Không phân biệt tuổi tác, giới tính; Trực tiếp làm ra sản phẩm, của cải vật chất hoặc trực tiếp tạo ra những giá trị tốt đẹp cho xã hội từ bàn tay, khối óc, trí tuệ của bản thân. Chính sách, chính sách công Chính sách được hiểu là tập hợp các quyết định hay chương trình hành động do tập thể các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình [3].
Chính sách là một công cụ quan trọng của quản lý. Mọi tổ chức, mọi cấp quản lý đều phải sử dụng các công cụ quản lý như chính sách, quyết định quản lý, kế hoạch, chiến lược, quy định pháp luật để tác động lên đối tượng quản lý theo một cách thức nào đó nhằm đạt tới mục tiêu mong muốn.