CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm dân số Trong lĩnh vực dân số, có rất nhiều góc nhìn khác nhau để nghiên cứu, như: nhân khẩu học, động lực học, xã hội học, kinh tế học và địa lý… Dân số (population) là sự tập hợp của những người đang sinh sống trên một không gian địa lý nhất định. Dân số là tập hợp những người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, một đơn vị hành chính hoặc vùng địa lý kinh tế (Khoản 3 thuộc Điều 3 của Pháp lệnh Dân số 2003).
Kế thừa quan niệm này, mới đây theo Dự thảo Luật Dân số 4 năm 2020 xác định: Dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng kinh tế - xã hội hoặc một đơn vị hành chính. Từ khái niệm dân số, khi đề cập quy mô dân số, tức là đề cập đến số lượng người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định. Nói cách khác: Quy mô dân số là tổng số dân của một địa phương, một quốc gia, một vùng lãnh thổ tại một thời điểm nhất định. (Khoản 3 thuộc Điều 3 của Pháp lệnh Dân số 2003) Sự phân chia tổng số dân của một vùng hay một quốc gia thành các nhóm theo một tiêu chí đặc trưng nhất định gọi là cơ cấu dân số.
Cơ cấu dân số của một vùng hay một quốc gia là tổng số dân xét theo: giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác. Chẳng hạn, cơ cấu tự nhiên (giới tính, tuổi), cơ cấu xã hội (tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, tôn giáo.), cơ cấu dân tộc. Trong đó cơ cấu giới tính và tuổi của dân số là quan trọng, bởi nó chẵng những ảnh hưởng lớn tới mức sinh, mức chết và di dân (dân số cơ học); mà còn có ảnh hưởng quyết định đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội. Ngoài quy mô và phân bố dân số, thì cơ cấu dân số là đặc 10 tính thứ ba được hình thành thông qua sự tác động của những thay đổi mức sinh, mức chết và di dân.
(Khoản 3 thuộc Điều 3 của Pháp lệnh Dân số 2003) Do đó, ở góc độ quy mô và cơ cấu, thì dân số là dân cư. Với cấp quốc gia, dân số là tổng số dân cư sinh sống của một nước. Nội hàm của khái niệm dân cư không chỉ là số lượng người, cơ cấu độ tuổi và cơ cấu giới tính, mà nó còn bao gồm nhiều vấn đề liên quan đến kinh tế, văn hoá, sức khoẻ, ngôn ngữ. Với nghĩa này được hiểu bảo gồm cả số lượng và cơ cấu và chất lượng.
Nói cách khác, nội hàm của khái niệm dân cư rộng hơn rất nhiều so với nội hàm của khái niệm Dân số. Dân số học thường hiểu theo nghĩa hẹp dùng để chỉ nội dung nghiên cứu về quy mô, cơ cấu và biến động dân số. Dân số đang là đối tượng quản lý của nhà nước. Công tác dân số là công tác quản lý và tổ chức thực hiện những hoạt động tác động tới quy mô dân số, cơ cấu dân số, sự phân bố dân cư và nâng cao chất lượng dân số.
Như vậy, công tác dân số là công tác quản lí và tổ chức những hoạt động thực hiện sự tác động tới quy mô dân số, kiểm soát dân số và chăm sóc sức khoẻ, cơ cấu dân số và phân bố dân cư để nâng cao chất lượng sống, góp phần xây dựng một xã hội ổn định và phát triển bền vững. Phân bố dân cư, đó là sự phân chia tổng số dân theo vùng địa lý kinh tế, khu vực hay một đơn vị hành chính. Chất lượng dân số, đó là sự phản ánh những đặc trưng về thể chất, tinh thần và trí tuệ của toàn dân. Sức khoẻ sinh sản là sự phản ánh những trạng thái về thể chất, tinh thần và xã hội liên quan tới hoạt động và chức năng sinh sản của mỗi con người.
Quy mô dân số bị quy định bởi tỷ suất sinh (đơn 11 vị tính ‰), tỷ suất chết và sự di cư trong quá khứ và hiện tại. Quy mô dân số là nguồn cung lao động rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Khái niệm chính sách công Chính sách là sự tập hợp các biện pháp mà một chủ thể quyền lực nhất định dùng để thực thi nhằm định hướng xã hội theo mục tiêu chính trị của chủ thể quyền lực” (quan niệm của Michael G. Đối với William Jenkin, chính sách công là một tập hợp những quyết định có liên quan với nhau của một nhóm nhà chính trị hoặc một nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó.
Còn theo Oxford English Dictionary, chính sách công là theo đuổi một đường lối hành động hoặc thông qua bởi đảng, chính quyền, chính khách, nhà cai trị. Nhìn chung, các quan niệm này có chung góc nhìn chính trị học để tiếp cận, tức là xem chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hoặc nhà quản lý thiết lập thuộc phạm vi và thẩm quyền của mình nhằm giải quyết một vấn đề nhất định. Ở góc nhìn khoa học chính sách: Chính sách công là một quá trình mà chính quyền hành động hay không hành động nhằm đáp lại một vấn đề công cộng (quan niệm của Kraft và Furlong [1]). Chính sách công [18] là một sự tâp hợp về những lựa chọn liên quan với nhau, bao gồm cả những quyết định không hành động, do những cơ quan nhà nước hoặc những giới chức nhà nước thông qua (quan niệm của Wiliam N.
Chính sách công là toàn bộ những hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng gián tiếp hoặc trực tiếp đối với cuộc sống của tất cả các công dân (quan niệm của B. Chính sách công là bao gồm những hoạt động thực tế của Chính phủ tiến hành (quan niệm của Peter Aucoin). Như vậy, có thể hiểu chính sách công là một tập hợp những quyết định do chính quyền nhà nước ban hành gắn liền với việc lựa chọn các giải pháp thực hiện theo thẩm quyền để giải quyết vấn đề xã hội trong thực tiễn theo mục tiêu 12 đã xác định. Nói cách khác, chính sách công là chương trình hành động do chính quyền nhà nước thiết lập theo thẩm quyền để giải quyết vấn đề xã hội trong thực tiễn theo mục tiêu đã xác định.
Khái niệm thực hiện chính sách dân số Chính sách công với những tác động có chủ đích bằng chương trình hành động được thực hiện nhằm đạt các mục tiêu đã xác định. Chính sách phải được triển khai trong thực tiễn đời sống xã hội. Một chính sách tốt/ xấu chỉ có thể xác định khi trải qua thực tiễn khách quan xã hội; và được phán xét tích cực khi và chỉ khi đạt được ý chí, nguyện vọng của đại đa số người dân. Hơn nữa, việc thực thi chính sách là một tất yếu khách quan nhằm duy trì sự tồn tại các công cụ của chính sách và nhằm đạt mục tiêu đề ra theo yêu cầu quản lý nhà nước.
Thực hiện chính sách công [15; tr.97] là việc tổ chức và hoạt động nhằm thực thi chính sách vốn đã được cơ quan lập pháp ban hành. Hoặc có thể hiểu thực hiện chính sách [18; tr.112] là bước chuyển các ý đồ của chính sách thành hiện thực bằng các hoạt động có tổ chức của cơ quan nhà nước nhằm đạt mục tiêu đã xác định. Theo Nguyễn Khắc Bình, tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với những đối tượng quản lý để đạt các mục tiêu định hướng của nhà nước. Như vậy, thực hiện chính sách công là toàn bộ hoạt động tham gia của các chủ thể trong quá trình tổ chức triển khai chương trình hành động bằng các giải pháp, công cụ đã được xác lập trong các quyết định mang tính pháp lý để hiện thực hóa mục tiêu định hướng của nhà nước nhằm cải thiện và phát triển xã hội.
Với cơ sở nêu trên, thực hiện chính sách dân số được hiểu là toàn bộ hoạt động tham gia của các chủ thể trong quá trình tổ chức triển khai chương trình hành động về lĩnh vực dân số bằng các giải pháp, công cụ đã được xác lập trong các quyết định mang tính pháp lý nhằm hiện thực hóa các mục tiêu định hướng của nhà nước về dân số - sức khỏe và dân số - phát triển, vì một xã hội 13 ổn định và phát triển bền vững. Như vậy, thực hiện chính sách dân số dân số bao gồm những hoạt động tham gia của nhiều chủ thể theo kịch bản chương trình hành động đã được nhà nước duyệt thông qua nhiều giải pháp, công cụ phù hợp quy định của pháp luật để tác động tới quy mô dân số, cơ cấu dân số, điều tiết phân bố dân cư một cách có kiểm soát và nâng cao chất lượng dân số. Nội dung của chính sách dân số 1. Vấn đề, mục tiêu chính sách dân số Vấn đề chính sách dân số cần được xác định là giai đoạn đầu tiên nằm trong chu trình chính sách này, bao gồm từ bước phát hiện những vấn đề xã hội, mâu thuẫn, vướng mắc, khó khăn, trở ngại nảy sinh trong thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội, nhất là các lĩnh vực hoạt động cần được đưa vào chương trình nghị sự của nhà nước và giải quyết vấn đề bằng chính sách dân số cho tới khi hoàn thành mục tiêu chính sách này nhằm thoả mãn nhu cầu của người dân và đáp ứng sự phát triển xã hội theo hướng bền vững.
Xác định vấn đề chính sách dân số đúng bản chất, đúng thời điểm, đúng đối tượng sẽ đóng vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách dân số tại các nước đang phát triển do nền kinh tế chưa đủ lớn và hệ thống tài chính còn yếu. Tuy nhiên, nếu xác định vấn đề dân số không trúng thì xử lý vấn đề chính sách sẽ sai lệch và kéo theo các hệ lụy khác. Do dân số không chỉ là lực lượng sản xuất quan trọng trong phát triển kinh tế, mà nó còn là lượng khách hàng tiêu dùng trong đời sống xã hội. Quy mô dân số cùng với cơ cấu của nó có ý nghĩa quyết định đến quy mô cơ cấu của quá trình sản xuất và tiêu dùng.