Luận văn thạc sĩ chính sách công thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện nông sơn tỉnh quảng nam

Luận văn thạc sĩ phân tích thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Nông Sơn, Quảng Nam, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

76
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Phần này trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Tác giả phân tích khái niệm lao động nông thôn, đặc điểm của họ, và vai trò của đào tạo nghề trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Chính sách đào tạo nghề được xem là công cụ quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng nông thôn, đặc biệt là ở Huyện Nông Sơn, Quảng Nam.

1.1. Lao động nông thôn và chính sách đào tạo nghề

Tác giả định nghĩa lao động nông thôn là những người sống và làm việc tại khu vực nông thôn, chủ yếu tham gia vào các hoạt động nông nghiệp. Đặc điểm của lao động nông thôn bao gồm trình độ chuyên môn thấp, tính thời vụ trong công việc, và sự thiếu hụt kỹ năng nghề nghiệp. Chính sách đào tạo nghề được thiết kế để giải quyết những hạn chế này, giúp người lao động nâng cao kỹ năng nghề và tìm kiếm việc làm ổn định.

1.2. Mục tiêu và nội dung của chính sách đào tạo nghề

Mục tiêu chính của chính sách đào tạo nghề là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng năng suất lao động, và góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn. Nội dung của chính sách bao gồm việc xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế của địa phương, hỗ trợ tài chính cho người học, và cải thiện cơ sở vật chất phục vụ đào tạo.

II. Thực trạng thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Huyện Nông Sơn Quảng Nam

Phần này đánh giá thực trạng việc thực thi chính sách đào tạo nghề tại Huyện Nông Sơn, Quảng Nam. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách, bao gồm năng lực của cán bộ địa phương, chất lượng chương trình đào tạo, và sự tham gia của người dân. Kết quả cho thấy, mặc dù đã đạt được một số thành tựu, việc triển khai chính sách vẫn gặp nhiều khó khăn.

2.1. Tổng quan tình hình lao động tại Huyện Nông Sơn

Huyện Nông Sơn có thế mạnh về nông nghiệp, nhưng lao động nông thôn tại đây chủ yếu làm việc trong các ngành nghề truyền thống với trình độ chuyên môn thấp. Số lượng lao động dôi dư lớn, nhưng việc bố trí công việc phù hợp gặp nhiều khó khăn do thiếu kỹ năng nghề cần thiết.

2.2. Quy trình thực thi chính sách đào tạo nghề

Quy trình thực thi chính sách đào tạo nghề tại Huyện Nông Sơn bao gồm các bước: khảo sát nhu cầu đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức đào tạo, và đánh giá kết quả. Tuy nhiên, quá trình này còn nhiều bất cập, đặc biệt là sự thiếu đồng bộ giữa các khâu và sự hạn chế về nguồn lực.

III. Giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Huyện Nông Sơn Quảng Nam

Phần này đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách đào tạo nghề tại Huyện Nông Sơn, Quảng Nam. Tác giả nhấn mạnh việc cải thiện chất lượng chương trình đào tạo, tăng cường sự tham gia của cộng đồng, và hỗ trợ tài chính cho người học. Các giải pháp này hướng đến mục tiêu phát triển bền vững nguồn nhân lực tại địa phương.

3.1. Cải thiện chất lượng chương trình đào tạo

Để nâng cao hiệu quả đào tạo nghề, cần xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế của lao động nông thôn. Điều này bao gồm việc lựa chọn ngành nghề đào tạo phù hợp, cập nhật kiến thức và kỹ năng mới, và tăng cường thực hành trong quá trình đào tạo.

3.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia tích cực của cộng đồng là yếu tố quan trọng để thực thi hiệu quả chính sách đào tạo nghề. Cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích của đào tạo nghề, và khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội trong quá trình triển khai chính sách.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ chính sách công thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện nông sơn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Lao động nông thôn và chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Lao động nông thôn 1. Khái niệm lao động nông thôn Thuật ngữ “LĐNT” được tiếp cận dưới nhiều chiều cạnh không giống nhau.

Quan niệm cho rằng: “LĐNT là những người thuộc lực lượng LĐNT và tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn” [1, tr. Từ cách tiếp cận này giúp xác định thành phần LĐNT bao gồm: lao động trực tiếp sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, làm nghề rừng, ngư nghiệp, diêm nghiệp); lao động làm dịch vụ kinh tế - kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp (thú y, bảo vệ thực vật, giống và vật tư nông nghiệp, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm, quản lý khai thác công trình thủy lợi, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn); lao động công nghiệp và lao động làm công ăn lương ở khu vực nông thôn [1, tr. Trong luận văn này tác giả cho rằng: LĐNT là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn có khả năng lao động. Theo cách định nghĩa này, LĐNT là những người sống và làm việc ở nông thôn.

Đây là điểm khác biệt với lao động ở thành thị. Thành phần quan trọng nhất của LĐNT là những người ở trong độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật. Ở Việt Nam, độ tuổi lao động tính từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ. Tuy nhiên, lực lượng này chỉ gồm những người có khả năng 6 lao động còn nếu mất khả năng lao động thì không được tính.

Ngoài ra, LĐNT còn bao gồm những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế có tham gia lao động. Lực lượng này chiếm tỷ lệ không nhỏ ở nông thôn bởi vì LĐNT với những nét đặc trưng phù hợp đối với nhiều người. Theo quy định hiện hành, những người ngoài độ tuổi lao động gồm: (1) người lao động trên độ tuổi lao động: nam từ 61 tuổi trở lên và nữ từ 56 tuổi trở lên; (2) người lao động dưới độ tuổi lao động: từ 13 đến 14 tuổi đối với nam nữ. LĐNT đóng vai trò quyết định cho sự phát triển kinh tế của mỗi hộ gia đình và là nguồn nhân lực chủ yếu phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

ĐTN, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật để người lao động có việc làm ổn định, tăng thu nhập là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đặc điểm lao động nông thôn Nông thôn là vùng lãnh thổ đặc thù, trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra chủ yếu vì vậy LĐNT có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, số lượng LĐNT chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động cả nước và phân bố không đồng đều giữa các địa bàn, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng. Điều này là dễ hiểu vì nước ta là một nước nông nghiệp và địa hình khá đa dạng trong đó địa hình đồng bằng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân sinh sống và lao động sản xuất. Thứ hai, chất lượng của LĐNT rất thấp (trình độ nghề nghiệp, kỹ năng lao động, thể lực, kiến thức xã hội, khả năng tiếp cận thị trường…).

Đây là sản phẩm của tư duy “thuần nông” mang tính lịch sử. Vì thế, vấn đề đào tạo nâng cao chất lượng cho LĐNT trở nên cần thiết và cấp bách. Thứ ba, LĐNT đa dạng, dễ thay đổi và mang tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp dẫn đến dư thừa lao động vào những lúc nông nhàn. Để có việc làm tăng thu nhập, nông dân phải tham gia vào nhiều hoạt động lao động khác 7 nhau, làm nhiều công việc ở những ngành nghề khác nhau.

Đặc điểm này đặt ra những vấn đề cần quan tâm trong ĐTN cho đối tượng này. Thứ tư, LĐNT đang có xu hướng già hóa do phần lớn lao động trẻ có tay nghề có xu hướng di cư ra những thành phố lớn tìm cơ hội việc làm và thậm chí có sự dịch chuyển cơ cấu lao động tại nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp. Đào tạo nghề Khoản 2 Điều 3 của Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 quy định: ĐTN là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Từ những cách tiếp cận trên cho thấy ĐTN bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ không thể tách rời nhau đó là dạy nghề và học nghề.

Thế nên trong nhiều trường hợp, dạy nghề và ĐTN được đồng nhất với nhau. Dạy nghề hiểu theo nghĩa chung nhất là tổng thể các hoạt động truyền nghề đến người học. Hiểu một cách đầy đủ, đó là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo về nghề nghiệp. Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận thuật ngữ “ĐTN” như sau: ĐTN là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định.

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Khái niệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn Nông thôn là vùng lãnh thổ rộng lớn trong đó hoạt động nông nghiệp đóng vai trò quan trọng và nông dân là bộ phận dân cư chủ yếu. Sự khác nhau giữa khái niệm ĐTN nói chung và ĐTN cho LĐNT là ở đối tượng của ĐTN 8 đó là những người LĐNT và những điều kiện gắn với quá trình ĐTN đó. Từ những khái niệm đã được luận giải ở trên, khái niệm ĐTN cho LĐNT được hiểu đó là quá trình trang bị những kiến thức nhất định về trình độ chuyên môn nghiệp vụ để những người LĐNT có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.

Đặc điểm của đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Về đối tượng đào tạo: Số lượng lớn: trên thực tế, loài người xuất hiện bắt đầu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp vì vậy đa phần dân số bắt đầu từ làm nông nghiệp. Ở nước ta, với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp thuần túy, LĐNT chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng lực lượng lao động xã hội. Chất lượng thấp: chất lượng LĐNT được đo bằng các tiêu chí thể lực và trí lực. Trí lực chứa đựng nhiều nội dung như trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, tập quán, văn hóa, trình độ tổ chức cuộc sống… Thể lực được đo bằng sức khỏe và tuổi thọ của người lao động.

Những tiêu chí này đối với người LĐNT đều thấp hơn so với lực lượng lao động ở thành thị vì vậy đặt ra nhiều yêu cầu cho công tác ĐTN. Đa dạng: tính đa dạng của đối tượng đào tạo được biểu hiện qua tính đa dạng của nguồn LĐNT. Đa dạng về độ tuổi, sức khỏe, hoàn cảnh sống, điều kiện sản xuất. Với mỗi đối tượng trên, điều kiện tham gia đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động nông nghiệp khác nhau.

Đối tượng của ĐTN chủ yếu là nông dân nên đòi hỏi nội dung đào tạo là các nghề trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản… Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ nên người nông dân có khuynh hướng kiêm nghề, vì vậy ĐTN cũng cần tiếp cận để tổ chức hiệu quả. Nguồn nội lực yếu: đối tượng học nghề là cư dân ở nông thôn có thu 9 nhập thấp, chỉ đủ tái sản xuất giản đơn và chi dùng cho các nhu cầu đời sống tối thiểu. Thu nhập dành cho học tập và tham gia vào các quá trình ĐTN, nhất là học nghề thường hạn chế nên cần sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng. Lao động nông nghiệp làm việc có tính chất thời vụ nên người nông dân cần có việc làm trong những thời gian nông nhàn để tăng thu nhập đáp ứng yêu cầu cuộc sống.

Vì vậy ĐTN cho LĐNT cần khuyến khích không chỉ các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng làm nghề nông, lâm, ngư mà còn khuyến công (đặc biệt là tiểu thủ công nghiệp) và khuyến thương (thương mại và dịch vụ). Về chủ thể đào tạo: chủ thể đào tạo khá đa dạng, bên cạnh các cơ sở đào tạo chính thống, chuyên nghiệp còn nhiều chủ thể khác tham gia ĐTN như các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh, các hợp tác xã, các tổ chức xã hội… Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề cũng có những nét riêng trong công tác ĐTN xuất phát từ những đặc thù của đối tượng đào tạo. Đặc điểm này đặt ra những gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách. Tính chất đào tạo: đào tạo cho LĐNT được thực hiện trong thời gian ngắn, lặp đi lặp lại, chủ yếu tập trung dạy thực hành, kĩ năng, linh hoạt về hình thức và phương pháp đào tạo.

Không chỉ ĐTN trong các trường nghề, trung tâm dạy nghề mà cần tổ chức dạy nghề lưu động; dạy nghề tại chỗ (trên đồng ruộng, trang trại, miệt vườn); dạy nghề theo hình thức kèm cặp, cầm tay chỉ việc, truyền nghề tại các làng nghề; dạy nghề trên các phương tiện thông tin đại chúng. Mục tiêu ĐTN cho LĐNT: Nâng cao chất lượng chuyên môn tay nghề cho LĐNT; Tăng năng suất lao động và phát triển kinh tế hộ gia đình; Giải quyết việc làm cho LĐNT, ổn định xã hội và phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn Chính sách ĐTN cho LĐNT là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các chính sách công của nhà nước do vậy trước khi đưa ra định nghĩa cần hiểu thống nhất về khái niệm chính sách công ở nước ta hiện nay. Có nhiều cách tiếp cận về chính sách công.

Thomas Dye (1972) đưa ra một định nghĩa súc tích về chính sách công như sau: chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Luận Văn Thạc Sĩ: Thực Thi Chính Sách Đào Tạo Nghề Cho Lao Động Nông Thôn Tại Huyện Nông Sơn, Quảng Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc thực hiện các chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhằm nâng cao kỹ năng và khả năng làm việc của họ. Luận văn không chỉ phân tích thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể để cải thiện hiệu quả của chương trình đào tạo nghề, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm những hiểu biết về cách thức triển khai chính sách, cũng như các mô hình đào tạo hiệu quả có thể áp dụng. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh, nơi cung cấp các giải pháp xây dựng nông thôn mới, hay Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường giải pháp huy động các nguồn lực phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh, giúp bạn hiểu rõ hơn về việc huy động nguồn lực cho phát triển nông thôn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các chính sách và giải pháp trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.