Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình - tế bào của xã hội. Kể từ thời điểm quan hệ hôn nhân được xác lập giữa một người đàn ông và một người đàn bà bằng sự kiện kết hôn, họ chính thức trở thành vợ chồng, có các quyền, nghĩa vụ với nhau, với cha mẹ, con cái… Để đảm bảo các điều kiện vật chất phục vụ đời sống gia đình và thực hiện các quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái… vợ chồng cần có tài sản. Tài sản của vợ chồng là nguồn quan trọng phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của gia đình.
Trên bình diện xã hội, gia đình chính là một đơn vị kinh tế. Các thành viên trong gia đình, đặc biệt là vợ chồng tham gia tích cực vào các hoạt động tạo ra của cải vật chất cho xã hội qua đó tạo dựng khối tài sản cho mình. Vì vậy, tài sản của vợ chồng không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với vợ chồng và gia đình mà còn đóng góp cho sự phát triển chung của toàn xã hội. Tài sản của vợ chồng cũng là một loại tài sản theo pháp luật dân sự, vì vậy, nghiên cứu vấn đề tài sản của vợ chồng phải đặt trong bối cảnh của chế định tài sản nói chung.
Tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, là khách thể của phần lớn các quan hệ pháp luật dân sự. Tuy nhiên, tài sản là một khái niệm rộng, dưới góc độ pháp lý, rất khó có thể định nghĩa cụ thể về tài sản. Pháp luật các nước thường không đưa ra định nghĩa cụ thể về tài sản mà nó thường được hiểu thông qua các học thuyết pháp lý hoặc hiểu gián tiếp thông qua các quy định khác. Ví dụ, BLDS Pháp không trực tiếp đưa ra khái niệm tài sản mà chỉ ghi nhận "tài sản được chia thành động sản và bất động sản" [27, Điều 156], BLDS Nhật Bản cũng chỉ nêu ra những vật được coi là động sản, bất động sản, vật chính, vật phụ (Điều 85 đến Điều 88)… mà không định nghĩa tài sản.
Khác với cách quy định của các bộ luật trên, pháp luật dân sự nước ta chọn cách định nghĩa tài sản bằng cách liệt kê những đối tượng được coi là tài sản "tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [38, Điều 163]. Theo cách liệt kê trên, các đối tượng là tài sản được xác định như sau: - Vật được coi là tài sản phải là một bộ phận của thế giới vật chất và nằm trong sự kiểm soát của con người. Đồng thời, vật phải mang lại lợi ích cho con người, tức là phục vụ cho các nhu cầu về sinh hoạt, sản xuất, tiêu dùng… của con người. - Tiền là thước đo giá trị của hàng hóa, là phương tiện thanh toán… Ngoài ra, tiền còn có ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội, nó thể hiện chủ quyền của quốc gia.
Vì thế, việc phát hành, đưa tiền vào hay rút tiền khỏi lưu thông đều được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ. - Giấy tờ có giá là "bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác" [43, Điểm 8 Điều 6]. Ví dụ như hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, trái phiếu Chính phủ…. - Quyền tài sản theo quy định tại Điều 181 BLDS năm 2005 "là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ".
Như vậy, để một quyền được coi là quyền tài sản nó phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản đó là trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự. Có thể kể ra các quyền tài sản như quyền nhận lợi tức cổ phiếu, quyền hưởng nhuận bút của tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật,quyền nhận thù lao của chủ sở hữu văn bằng sáng chế… Như vậy, theo quy định của BLDS năm 2005 các đối tượng là tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Khái niệm và các quy định về tài sản, quyền sở hữu trong Luật dân sự là khái niệm gốc, là cơ sở để các luật chuyên ngành xây dựng các khái niệm tài sản cụ thể theo tính chất riêng của ngành luật mình, ví dụ như khái niệm tài sản góp vốn trong Luật Doanh nghiệp, tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ… 1. Tài sản chung của vợ chồng 1.
Khái niệm tài sản chung của vợ chồng Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang phát triển sôi động trên tất cả các ngành, các lĩnh vực như hiện nay, gia đình là chủ thể tham gia vào rất nhiều các hoạt động kinh tế, xã hội khác nhau. Việc hộ gia đình được BLDS công nhận là một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự và Luật Đất đai công nhận hộ là chủ thể được Nhà nước giao đất, cho thuê đất…đã tạo những tiền đề cơ bản để kinh tế hộ gia đình nói chung và tài sản của vợ chồng nói riêng phát triển ngày càng nhanh chóng. Theo nội hàm của khái niệm tài sản quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản của vợ chồng bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản khác. Như vậy, tài sản của vợ chồng cũng bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng.
Tài sản của vợ chồng gồm có tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên, vì phạm vi luận văn chỉ đề cập đến vấn đề tài sản chung của vợ chồng nên xin phép không phân tích vấn đề tài sản riêng ở đây. Về tài sản chung, Điều 214 BLDS năm 2005 quy định "tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung" [38]. Như vậy, tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung của cả vợ và chồng - vợ, chồng cùng là chủ sở hữu đối với khối tài sản đó.
Đặc điểm của tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất, tức là "phần quyền của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung" [38, Khoản 1 Điều 217]. Theo đó, khi hôn nhân còn tồn tại, không thể xác định được phần tài sản cụ thể của vợ, chồng trong khối tài sản chung. Khối tài sản chung của vợ chồng thường hình thành từ khi hai bên nam nữ bắt đầu bước vào cuộc sống vợ chồng thông qua sự kiện kết hôn và sẽ liên tục được bổ sung trong suốt thời kỳ hôn nhân bằng nhiều nguồn khác nhau.2 Nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng Pháp luật của nhiều nước trên thế giới thừa nhận quyền tự do thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản hay còn được gọi là khế ước hôn nhân hoặc hôn ước. "Hôn ước là chứng thư thể hiện sự thỏa thuận của người kết hôn hay của vợ chồng về chế độ tài sản của họ trong hôn nhân" [19].
Bởi vậy, thành phần, nguồn gốc của khối tài sản chung của vợ chồng thường phụ thuộc vào sự thỏa thuận của vợ chồng được thể hiện trong hôn ước. Điển hình cho cách quy định này là BLDS Pháp, BLDS Nhật Bản… Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản pháp định. Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật đã dự liệu từ trước về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với từng loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng; phương thức thanh toán liên quan đến các khoản nợ chung hay nợ riêng của vợ, chồng [7, tr. Theo chế độ tài sản này, vợ chồng phải tuân theo quy định pháp luật về các vấn đề liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng như nguồn gốc tài sản, nguyên tắc sử dụng, định đoạt tài sản… Quan điểm lập pháp này được duy trì và thể hiện thống nhất trong Luật HN&GĐ của Nhà nước ta qua các thời kỳ.
Luật HN&GĐ năm 1959 là Luật HN&GĐ đầu tiên của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mặc dù được xây dựng trong hoàn cảnh đất nước còn chiến tranh, điều kiện kinh tế nhiều khó khăn và chỉ có vẻn vẹn 35 điều luật nhưng Luật HN&GĐ năm 1959 đã có những quy định đầu tiên về tài sản chung của vợ chồng "vợ và chồng có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới" [30, Điều 15]. Với quy định trên, có thể suy luận mọi tài sản của vợ, chồng đều là tài sản chung của vợ chồng không phân biệt tài sản do ai tạo ra, có trước hay trong thời kỳ hôn nhân… Do đó, khái niệm tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng không tồn tại trong các quy định của Luật HN&GĐ năm 1959. Đến Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000, các vấn đề liên quan đến tài sản chung của vợ chồng trong đó có nguồn gốc tài sản chung đã được luật quy định cụ thể hơn.
Theo quy định tại Điều 14, Điều 16 Luật HN&GĐ năm 1986 và Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng bao gồm: Tài sản chung do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động và thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Tài sản do vợ, chồng tạo ra có thể là kết quả lao động trực tiếp của vợ chồng như giường, tủ do vợ chồng tự đóng, nhà do vợ chồng tự xây. Hoặc tài sản nhận được từ hợp đồng mua bán, trao đổi tài sản… mà một bên vợ, chồng hoặc hai vợ chồng tham gia. Trong trường hợp thứ hai này, mặc dù vợ chồng không tạo ra tài sản bằng lao động trực tiếp nhưng đã dùng tài sản hiện có của mình như tiền, vật để mua hoặc trao đổi lấy tài sản khác. Vì vậy, những tài sản này cũng được xác định là tài sản do vợ chồng tạo ra.
Bằng việc nhận được một số tiền, vật… thông qua các giao dịch kể trên, ngay lập tức số tiền, vật… đó trở thành tài sản chung của vợ chồng theo hiệu lực của chế độ tài sản.