CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã trình bày sơ lược về lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cũng được chỉ rõ nhằm làm tiền đề cho các chương sau. Tiếp theo, chương 2 sẽ đi vào phần cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Một số khái niệm 2.1 Khái niệm chuyển đẳì số Tác giả Demirkan và cộng sự (2016) thì “cho rằng, hoạt động chuyển đổi số được đề cập đến như là một hiện tượng chuyển đổi nhanh chóng và sâu rộng, trong đó căn bản dựa vào những tiến bộ về kỹ thuật số nhằm ứng dụng vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quy trình và mô hình kinh doanh”.
Tưong tự Hess và cộng sự (2016) “cũng đề cập đến một đặc điểm quan trọng của chuyển đổi số đó là ứng dụng những thay đổi trong công nghệ kỹ thuật số, để từ đó có thể phát triển các mô hình sản xuất kinh doanh mói, thông qua đó tạo ra được những sản phẩm dịch vụ mới hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật số trong việc chuyển đổi cơ cấu tổ chức, quá trình - quy trình làm việc theo hướng tự động hóa (automatic)”. Theo Micic (2017), định nghĩa chuyển đổi số được đề cập như là “Tích hợp công nghệ kỹ thuật số vào hoạt động kinh doanh dẫn đến những thay đổi trong hoạt động kinh doanh và cung cấp giá trị cho khách hàng”. Trong đó, tác giả Micmic (2017) “nhấn mạnh đến chủ thể của việc chuyển đổi số đó là việc ứng dụng các công nghệ kỹ thuật số và các hoạt động chính của doanh nghiệp đó là sản xuất, xử lý và chuyển giao luồng thông tin”. Việc ứng dụng công nghệ số theo Micmic (2017) “dựa trên nền tảng của sự phát triển của nhiều loại hình công nghệ khác nhau bao gồm mạng viễn thông, công nghệ điện toán, các kỹ thuật phần mềm”.
Theo công ty tư vấn hàng đầu thế giới Gamer cho rằng: “chuyển đổi số có nội hàm khác nhau từ hiện đại hóa công nghệ, đến tối ưu hóa số, sáng tạo ra mô hình kinh doanh số mới, tạo ra doanh thu và giá trị mới” (Gamer, 1997). Theo Bộ thông tin và Truyền thông: “chuyển đổi số là việc sử dụng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi tổng thể và toàn diện tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, tái định hình cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau. Như vậy chuyển đổi số có sự liên hệ chặt chẽ giữa Dữ liệu - Công nghệ”. 8 Hiện công nghệ số được sử dụng rộng rãi trong nhiều hoạt động, có quy mô quốc gia.
Các doanh nghiệp thường định nghĩa về chuyển đổi số giống như việc két hợp, sử dụng công nghệ số vào hoạt động gia tăng hiệu quả kinh doanh, quản lý, tạo nên những giá trị tốt đẹp và tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Những hoạt động chuyển đổi số quan trọng như số hóa dữ liệu quản lý, SX-KD, tối ưu hóa các quy trình nghiệp vụ kinh doanh trong doanh nghiệp, quá trình quản lý sử dụng công nghệ số để tự động hóa, quy trình báo cáo, phối hợp hoạt động của doanh nghiệp cho đến việc chuyển đổi tất cả mô hình kinh doanh, hình thành những giá trị mới cho doanh nghiệp. Từ những định nghĩa kể trên có thể hiểu chuyển đổi số là việc áp dụng những đổi mới trong công nghệ về kỹ thuật số, qua đó hình thành nên phong cách sống mới (thường về cá nhân con người), cách thức vận hàng doanh nghiệp như việc doanh nghiệp vận hành quá trình SX-KD và quản lý (thường về các tổ chức và doanh nghiệp).2 Các giai đoạn trong chuyển đổi so doanh nghiệp Giai đoạn “Doing Digital”: Trong giai đoạn này, việc chuyển đổi số sẽ diễn ra theo hướng đon lẻ, không thể hiện sự liên kết. Khi đó, hầu hét các doanh nghiệp sẽ sử dụng những biện pháp công nghệ vào việc chuyển đổi mô hình kinh doanh, để khách hàng có thêm nhiều trải nghiệm mới cũng như giữ vững hoạt động của chuỗi cung ứng, tiêu chí hướng đến đó là đưa hiệu quả SX-KD đi lên, tạo ra giá trị cho doanh nghiệp.
Thời điểm này, các doanh nghiệp thường ưu tiên lựa chọn những giải pháp công nghệ đem tới kết quả cao cho hoạt động SX-KD và mở rộng kênh bán hàng như truyền thông và marketing online, thanh toán trực tuyến, thưong mại điện tử và hỗ trợ bán hàng đa kênh (omni-channel). Nhờ sự đổi mới và phát triển không ngừng của công nghệ trong thời kỳ 4.0 hiện nay đã giúp cho nhiều DNSXNW, mặc dù họ chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc chuyển đổi số nhưng dựa vào NNL dồi dào và co hội như hiện nay họ sẽ dễ dàng tiếp cận hon. Giai đoạn “Becoming Digital”: Ở giai đoạn này, doanh nghiệp sẽ tập trung vào việc sử dụng công nghệ số trong phạm vi lớn, phối hợp nhiều chức năng với nhau giúp thay đổi mô hình quản trị và hình thành nên mối liên két ban đầu để có được két quả cao từ việc giữ mức lợi nhuận ổn định và quản lý tốt doanh nghiệp. Việc các doanh nghiệp sử dụng tới công nghệ nhằm mục đích thiết lập một hệ thống báo cáo quản trị hiệu quả, dễ dàng liên kết vói những dữ liệu đang có như số liệu bán hàng, nhập xuất kho, số liệu hạch toán kế toán.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn số 9 hóa cả quy trình thiết lập kế hoạch, ngân sách và dự báo (PBF) cũng như quản trị NNL (HRM) nhằm đưa kết quả hoạt động quản trị chi phí, nhân sự đi lên. Mọi thông tin về doanh nghiệp trong giai đoạn này sẽ được cung cấp và kết hợp cùng nhau trong mọi hoạt động như bán hàng, quản lý hàng tồn kho cho tới kế toán. Vì số lượng khách hàng cá nhân và doanh nghiệp tăng cao nên cần đưa ra được biện pháp nhằm bảo mật thông tin của các khách hàng cũng như doanh nghiệp, giữ an toàn an ninh mạng. Khi dữ liệu liên kết chặt chẽ vói nhau sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra kế hoạch SX-KD hiệu quả nhất, các kế hoạch ngân sách, dự báo doanh thu và dòng tiền, xây dựng kế hoạch NNL,.
cho tưong lai. Giai đoạn “Being Digital”: Lúc này quá trình số hóa sẽ được hoàn thiện nhất, hoạt động quản trị và kinh doanh trong doanh nghiệp được liên kết và tích hợp đồng bộ với nhau, mọi thông tin được đưa tói các phòng ban một cách đầy đủ và nhanh chóng. Giai đoạn này nên thực hiện những biện pháp nhằm liên kết toàn bộ doanh nghiệp với nhau, dựa vào đặc điểm và năng lực trong thực tế của doanh nghiệp. Khi đó, doanh nghiệp sẽ quan tâm hon tới việc đưa ra nhiều sáng kiến mói nhằm có thêm sự thay đổi và giá trị tốt đẹp cho doanh nghiệp, đây cũng là động lực để theo kịp các doanh nghiệp lớn hơn.
Mặc dù vậy, để được xem là “doanh nghiệp số” trước tiên cần có những đổi mới về kỹ thuật và các nhiệm vụ trọng tâm của BLĐ cũng như văn hóa trong doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân dẫn tới việc đánh giá cao nhân tố con người vì quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp sẽ song song với phát triển con người. Ở Việt Nam quá trình chuyển đổi số tại các DNSXNW thường diễn ra theo 03 giai đoạn nhằm chuyển đổi từ “doing digital” sang “being digital”. Những giai đoạn này sẽ được thực hiện cùng nhau dựa trên tiêu chí và khả năng hiện tại của doanh nghiệp.
Theo đó, cũng cần phải thay đổi để phù hợp hon với tình hình thực té tại các DNSXNW.3 Khái niệm về Doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa Theo Điều 4 Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; 10 b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. c) Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thưong mại và dịch vụ.” Vì the DNSXNW thường là các doanh nghiệp có quy mô về nguồn vốn nhỏ; không sử dụng nhiều lao động, mức lọi nhuận thấp, năng lực quản lý doanh nghiệp cũng như chất lượng NNL và chi phí bồi dưỡng NNL cũng không cao, thường thấp hon doanh nghiệp khác.2 Các lý thuyết liên quan 2.1 Lý thuyết khuếch tán sự đoi mới (DOI) Everett M. Rogers đã tạo ra DOI vào năm 1962. Nhiều nghiên cứu đã dùng tới DOI, nó được xem như một lý thuyết cơ sở giúp lý giải hoạt động của một tổ chức khi áp dụng công nghệ mới.
Rogers cho thấy có tới 05 yếu tố đã tác động tới sự đổi mới đó là: lợi thế tương đối, tính dễ quan sát, khả năng tương thích, tính dễ thử nghiệm và tính phức tạp của công nghệ (Rogers EM, 2003). Theo Stuart “thì những lĩnh vực như lịch sử, khoa học, y tế cộng đồng, kinh tế, truyền thông, chính trị, công nghệ và giáo dục đều thích hợp với việc áp dụng lý thuyết của Rogers tạo cơ sở nghiên cứu năng lực phổ biến và ứng dụng công nghệ” (Stuart TE, 2000). “Trong một số nghiên cứu cho thấy, tính đổi mới của công nghệ đã tác động trực tiếp tới nhận định về tính dễ sử dụng công nghệ đó, điều này đã gián tiếp tác động tới dự định và hành vi sử dụng thực sự của tổ chức” (Kuo YF, Wu C-M, Deng W-J, 2009).2 Mô hình Công nghệ - Tổ chức - Môi trường (TOE) Louis G. Tomatzky & cộng sự đã nghiên cứu ra mô hình TOE nhằm nhận định về việc áp dụng những sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin ở mức độ tổ chức, DN.
Nội dung lý thuyết trên giống như quan điểm lý thuyết được sử dụng nhiều nhất trong những nghiên cứu liên quan tới năng lực sử dụng CNTT. Qua đó tác giả đã cho thấy biến số công nghệ, tổ chức và môi trường, lúc này lợi thế của TOE sẽ được tạo ra, nhận biết được sự khác biệt khi sử dụng công nghệ giúp hình thành nên các giá trị đến từ mới công nghệ (Zhu K, Kraemer K, Xu s, 2003). Mặt khác, lý do mà mô hình TOE không giới hạn là do quy mô và đặc điểm của tổ chức cũng như ngành hàng hay dịch vụ.