Chương 1. Cơ sở lý luận về chính sách thúc đây hoạt động đổi mới của doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất bền vững; Chương 2. Thực trạng chính sách thúc đây hoạt động đổi mới của doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất bền vững (nghiên cứu chuỗi sản xuất sản phẩm từ cá da trơn); Chương 3. Giải pháp chính sách thúc đây hoạt động đổi mới của doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất bên vững.
13 PHẢN NỘI DUNG CHUONG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHÍNH SÁCH THUC DAY HOẠT ĐỘNG DOI MOI CUA DOANH NGHIỆP TRONG CHUOI SAN XUẤT BEN VUNG 1. Hệ khái niệm công cu 1. Chính sách Khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây!: Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thé quản ly đưa ra, được thé chế hóa thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thong theo muc dich ma cht thé quyén luc mong doi.
Chính sách bao giờ cũng tao ra một su phan biệt đối xử của chủ thể quyên lực hoặc chủ thé quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau. Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó. Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thong theo chiến lược mà nhóm chủ thé quyền lực hoặc chủ thé quan lý đưa ra. Chính sách luôn tạo ra một bất bình đăng xã hội, rất có thể, đồng thời khắc phục một bất bình đăng xã hội đang ton tại, rất có thé khoét sâu thêm những bất bình đăng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội).
Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thé quyên lực hoặc chủ thé quan ly. ! Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình Khoa học chính sách, Đại học Quốc gia Hà Nội. 14 Như vậy, “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyên lực, hoặc chủ thé quản lý đưa ra, trong đó tạo sự wu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chién lược phát triển của một hệ thống xã hội ”.[§] Stoneman (1987) coi chính sách đổi mới là những chính sách liên quan đến sự can thiệp của chính phủ trong nền kinh tế với mục đích tác động đến quá trình đổi mới công nghệ. Mowery (1992) thì định nghĩa chính sách đôi mới là những chính sách ảnh hưởng đến những quyết định của doanh nghiệp dé phat trién, thương mại hoá va thực hiện các công nghệ mới.
Xuất phát từ hai định nghĩa trên Haukness và Wicken (1999) đưa ra cách xác định chính sách đôi mới theo nghĩa rộng hơn, vượt ra khỏi phạm vi của những chính sách đổi mới đã công bố (tức là chính sách tác động mạnh mẽ trực tiếp lên việc thực hiện đổi mới) bao gồm chính sách công nghiệp, chính sách tài chính, chính sách thương mại, các biện pháp điều chỉnh và luật pháp, và nhiều vùng chính sách khác. Theo các tác giả này thì chính sách đổi mới bao gồm cả những chính sách công bố và chính sách ngầm định (liên quan đến thấm quyền của bộ về đổi mới và các bộ không có chương trình hành động đôi mới riêng). Trong một nghiên cứu về chính sách đổi mới và cách tiếp cận hệ thống đổi mới, Edquist (2001) cho rằng chính sách đổi mới là sự can thiệp của nhà nước dẫn đến sự thay đổi kỹ thuật và các hình thức déi mới khác, bao gồm: chính sách NC&TK, chính sách công nghệ, chính sách cơ sở hạ tầng, chính sách vùng và chính sách giáo dục. Trong nghiên cứu của Uy ban châu Âu về đổi mới thì cho rằng chính sách đôi mới không đơn thuần chỉ tập trung vào NC&TK mà đúng hơn chính sách nay tập trung vao các biện pháp tốt nhất dé thúc đây một môi trường có lợi cho đôi mới, đó là một môi trường tạo điêu kiện đê truyên bá tri thức và 15 công nghệ trong hệ thống.
Môi trường thé chế thuận lợi bao gồm “nhu cầu” cho đôi mới: môi trường kinh tế vĩ mô, cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả, liên kết khoa học-công nghệ tốt, tiếp cận đến nguồn vốn mạo hiểm và quản lý chuyên môn cho cho việc hình thành doanh nghiệp, điều kiện hình thành mạng lưới, cơ cau hỗ trợ và nền tảng giáo dục (EC, 2002a). Chính sách đổi mới có thể hiểu là những can thiệp của nhà nước tạo điều kiện thuận loi và môi trường thúc đây cho sự thay đổi kinh tế có lợi nhất, khuyến khích sự phát triển nguồn nhân lực, nảy sinh những ý tưởng mới và hiện thực hoá những ý tưởng mới này thành các sản phẩm, quy trình và dịch vụ.[22] Theo tác giả, “Chính sách thúc đẩy hoạt động đổi mới của doanh nghiệp là những chỉnh sách của Nhà nước nhằm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình đổi mới của doanh nghiệp. Một số chính sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới góp phan nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hang hóa, góp phan tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ”. Doanh nghiệp Theo quan điểm phát triển, “doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải.
Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được”.[3 l ] Thực chất thì doanh nghiệp là khái niệm chung nhất để chỉ các loại hình doanh nghiệp, trong đó công ty là một loại hình doanh nghiệp và nó rất phổ biến. Quan điểm của các nước tư bản, công ty là một tô chức kinh tế được thành lập theo vốn, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về trái vụ của công ty trong phạm vi số vốn mà thành viên đó góp vào công ty. Công ty được thành lập dựa trên một thỏa thuận về quản lý điều hành, thường gọi là điều lệ, có thể phát hành các loại chứng khoán đề huy động vốn và được thừa nhận là pháp nhân ở hâu hêt các nước. 16 Theo Luật doanh nghiệp của Việt Nam thì Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ky kinh doanh theo quy định cua pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.[2] Có năm loại hình doanh nghiệp chính: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), Doanh nghiệp cổ phần, Doanh nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân và Doanh nghiệp hợp danh.
Căn cứ theo những quy định thì doanh nghiệp có các đặc điểm sau: Phần lớn doanh nghiệp được thành lập nhằm mục đích kinh doanh, mua bán hàng hóa tạo lợi nhuận hoặc cung ứng dịch vụ hoặc cả hai dé phuc vụ lợi ich người tiêu dùng. Tuy nhiên, cũng có một số đoanh nghiệp đặc thù, thành lập và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Các doanh nghiệp này đa phần là doanh nghiệp công ích hoặc doanh nghiệp xã hội, do Nhà nước thành lập và chủ sở hữu, thực hiện các hoạt động vì lợi ích của cộng đồng và xã hội. Theo các quy định hiện hành của Việt Nam, “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Như vậy, chỉ khi một tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng một cách chuyên nghiệp, liên tục, thường xuyên, lâu dai thì tổ chức đó mới có thé được coi là một doanh nghiệp. Đa phần các doanh nghiệp đều là những thực thể có tính tổ chức. Tính tô chức được thê hiện ở chỗ doanh nghiệp được thành lập luôn có cơ cầu nhân sự, có bộ máy tô chức điều hành, có trụ sở giao dịch hoặc đăng ký và có tài sản riêng dé quản lý. Chính vì vậy, pháp luật nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, quy định về tư cách “pháp nhân” của hầu hết các loại hình doanh nghiệp, trừ doanh nghiệp tư nhân vốn gắn liền với một cá nhân kinh doanh.
Doanh nghiệp muốn được thừa nhận là một pháp nhân, tham gia hoạt động kinh doanh và chịu trách nhiệm băng tài sản của mình thì đều phải đăng 17 ký một cách hợp pháp. Pháp luật nhiều nơi quy định về trình tự, thủ tục đăng ký hoặc công nhận một tổ chức là doanh nghiệp. Tính hợp pháp không chỉ thể hiện ở việc doanh nghiệp xin phép đăng ký và được cấp phép thành lập và hoạt động, để nhà nước ghi nhận sự hình thành hay ton tại của doanh nghiệp, mả còn thể hiện ở việc, khi tham gia vào các quan hệ xã hội, doanh nghiệp cũng là một thực thé độc lập và phải chịu trách nhiệm cho các hoạt động của mình, bằng tài sản riêng của mình. Hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Thuật ngữ đổi mới có xuất xứ gốc từ tiếng La tỉnh novatio với nghĩa là quá trình đổi mới.
Trong tiếng Anh, tính động từ innovating xem đổi mới là một hoạt động của các tác nhân đôi mới. Mặt khác, đổi mới không chỉ là hoạt động trong quá trình tạo ra một kết quả mà chính kết quả cũng được xem là đổi mới — sản phâm/dịch vụ mới. Theo phổ hoạt động, đôi mới được xem như một tập hợp toàn bộ các giai đoạn trong tiến trình tạo ra sản phẩm cuối cùng, bắt đầu từ nghiên cứu khoa học. Cũng có ý kiến của một số học giả cho rằng, đổi mới có thé/chi nên bắt đầu từ khâu năm vững sản xuất, phố dụng công nghệ mới hoặc sản phẩm mới.
Đổi mới là nhu cầu khách quan dé phát triển kinh tế — xã hội trong bối cảnh hội nhập thị trường và vì vậy được phân biệt theo mức độ tác động của nó tới môi trường kinh tế, công nghệ của xã hội.