chương 1, tác giả đã nêu tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, trên cơ sở đó, các câu hỏi nghiên cứu đã được đặt ra. Từ đó, tác giả xác định phạm vi và đối tượng cần nghiên cứu cũng như nội dung sẽ nghiên cứu toàn luận văn. Đồng thời, tác giả cũng đã liệt kê và phân tích sơ bộ về kết quả của các công trình nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài cả ở trong nước và ngoài thế giới, nêu ra những hạn chế của các công trình này và hướng nghiên cứu mới để khắc phục những hạn chế đó. Tác giả đã chọn lọc và đưa ra một số yếu tố có khả năng tác động đến mức độ CBTT trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Tp.
Phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và cấu trúc của luận văn cũng đã được tác giả đưa ra trong chương này. c 10 CHƯƠNG 2 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 2.1 Tổng quan về công bố thông tin 2.1 Khái niệm chung về công bố thông tin Một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của TTCK là CBTT. Nguyên tắc công khai thông tin được hiểu là các định chế, tổ chức khi tham gia thị trường phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của mình cho công chúng đầu tư biết. Trong Sổ tay CBTT dành cho các công ty niêm yết, CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời.
Trong định nghĩa này, chúng ta có thể hiểu rằng, minh bạch thông tin “là sự công bố thông tin kịp thời và đáng tin cậy, cho phép những người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và hiệu quả của một đơn vị, hoạt động kinh doanh và rủi ro liên quan đến các hoạt động này”. Cụ thể hơn, CBTT kế toán (Accounting Disclosures) là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các BCTC của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên). CBTT bao gồm hai loại là các công bố bắt buộc và các công bố tự nguyện (hay không bắt buộc). Công bố bắt buộc (Madatory disclosure) là những công bố kế toán được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ.
Những công bố này phải được trình bày theo những quy định của Luật Kinh doanh, Ủy ban chứng khoán, các cơ quan quản lý về kế toán, GAAP (Generally Accepted Accounting Principles) và các chuNn mục kế toán. Hiện nay, CBTT bắt buộc mặc dù đã được quy định cụ thể trong c 11 các văn bản pháp quy tuy nhiên mức độ tuân thủ vẫn khác nhau giữa các doanh nghiệp, ý thức về CBTT ở các doanh nghiệp vẫn chưa cao. Công bố tự nguyện (voluntary disclosures) là sự lựa chọn của doanh nghiệp, không bắt buộc, có nghĩa là một doanh nghiệp có thể có hoặc không cần phải công bố các thông tin kế toán mà luật pháp không yêu cầu. Theo xu hướng hiện nay thì các công bố tự nguyện đang thu hút mối quan tâm lớn của người sử dụng thông tin vì tính ảnh hưởng của nó và các công ty cũng ngày càng được khuyến cáo là sẽ thu được nhiều lợi ích hơn khi công bố các thông tin dạng này.
Nghiên cứu thông tin được công bố trên BCTC chính là nghiên cứu hành vi CBTT bắt buộc. Tuy nhiên, nội dung được quy định trên BCTC vẫn có một số nội dung bị chi phối bởi chuNn mực kế toán chỉ mang tính hướng dẫn, do đó những thông tin này chỉ mang tính chất đặc điểm của thông tin cống bố tự nguyện. Như vậy trong phạm vi nghiên cứu này, nội dung thông tin BCTC bao gồm thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện. CBTT là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực của xã hội và làm giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp (Adina, Ion – 2008).
Do đó, hành vi CBTT, đặc biệt của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán, có ảnh hưởng rất lớn trong nền kinh tế. Ảnh hưởng này không chỉ giới hạn ở tầm vi mô trong tình hình tài chính của từng doanh nghiệp, từng nhà đầu tư mà còn lan rộng trong cả nền kinh tế. Điều đó giải thích vì sao các nghiên cứu về mức độ CBTT, tác động và các yếu tố ảnh hưởng của nó không ngừng được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu trên thế giới. Việc nghiên cứu này đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản trị doanh nghiệp.
Có nhiều cách tiếp cận với thông tin được công bố của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán, như qua website của các doanh nghiệp, báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng, …Nguồn thông tin mà các nhà đầu tư, các bên thứ ba, các cơ quan quản lý có thể sử dụng bao gồm một hệ thống đa dạng các báo cáo thường niên, báo cáo bán niên, báo cáo bất thường … của các doanh nghiệp.2 Yêu cầu về công bố thông tin 2.1 Yêu cầu CBTT trong chu9n mực kế toán Trong ISAB Framework – khuôn mẫu lý thuyết, bốn tính chất quan trọng của thông tin kế toán được yêu cầu phải thể hiện là: • Tính có thể hiểu được (understandability): người lập BCTC giả định rằng người sử dụng có một kiến thức nhất định về kinh doanh, các hoạt động kinh tế và kế toán. Tuy nhiên không có nghĩa là các thông tin phức tạp nhưng thích hợp với nhu cầu ra quyết định kinh tế của người sử dụng lại có thể không trình bày trên BCTC với lý do là chúng được cho là quá khó hiểu đối với người sử dụng. • Tính thích hợp (Relevance): thông tin được cho là thích hợp khi nó ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng, giúp họ đánh giá các sự kiện quá khứ, hiện tại và tương lai hay điều chỉnh các đánh giá trong quá khứ của họ. Thông tin thích hợp chịu ảnh hưởng bởi bản chất và tính trọng yếu của nó.
Trong một vài trường hợp, chỉ riêng bản chất cũng đủ để xác định tính thích hợp của chúng. Ví dụ: báo cáo của một đơn vị thành viên có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá rủi ro và cơ hội mà đơn vị đang đối mặt mà không cần xét đến tính trọng yếu của kết quả đạt được của đơn vị thành viên đó trong kỳ báo cáo. Trong các trường hợp khác, cả bản chất và mức trọng yếu của thông tin đều quan trọng. Ví dụ: giá trị của mỗi loại hàng hoá tồn kho chủ yếu đều quan trọng đối với doanh nghiệp.
Thông tin được xem là trọng yếu nếu thiếu hay sai lệch thông tin có thể ảnh hưởng đến người sử dụng khi họ dựa trên BCTC để ra quyết định. Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn của khoản mục hay sai sót được đánh giá trong từng trường hợp cụ thể. • Tính đáng tin cậy (Reliability): thông tin đáng tin cậy là thông tin không chứa đựng các sai sót hay thiên lêch trọng yếu và được trình bày trung thực. Để đạt được điều này, thông tin cần phải được: + Trình bày trung thực (Faithful representation): trình bày các sự kiện, nghiệp vụ theo đúng nội dung xảy ra hay dự đoán hợp lý.
Phần lớn các thông tin tài chính có thể được c 13 trình bày thiếu trung thực không phải vì thiên lệch mà do khó khăn trong việc xác định nghiệp vụ hay sự kiện cũng như đo lường giá trị của nghiệp vụ. + Tôn trọng nội dung hơn hình thức (Substance over form): các nghiệp vụ hay sự kiện phải được tính toán và trình bày theo nội dung và tính chất kinh tế chứ không phải đơn thuần theo hình thức pháp lý. Nội dung và hình thức pháp lý không phải lúc nào cũng nhất quán. + Khách quan (Neutrality): thông tin được trình bày phải khách quan, không bị xuyên tạc, không được trình bày nhằm để đạt được kết quả đã được xác định trước.
+ Thận trọng (Prudence): thận trọng là việc cân nhắc trong điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng không cho phép khai thiếu tài sản và thu nhập hay khai khống chi phí. + Đầy đủ (Completeness): thông tin trình bày trên BCTC phải đầy đủ trong giới hạn của tính trọng yếu và chi phí. Việc thiếu thông tin có thể dẫn đến thông tin sai lệch hay chệch hướng và thông tin có thể trở nên không đáng tin cậy hay không thích hợp.
• Tính có thể so sánh được (Comparability): thông tin phải trình bày để người sử dụng có thể so sánh các BCTC của đơn vị trong một khoảng thời gian nhằm xác định xu hướng về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của các đơn vị khác nhau với nhau nhằm so sánh đánh giá tình hình tài chính, kết quả hoạt động và sự thay đổi tình hình tài chính của các bên. Theo chuNn mực kế toán VAS 01: ChuNn mực chung, quy định rõ các yêu cầu cơ bản đối với kế toán: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh được. • Trung thực: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh. • Khách quan: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo.
c 14 • Đầy đủ: mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót. • Kịp thời: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ. • Dễ hiểu: các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong BCTC phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng. Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế tài chính, kế toán ở mức trung bình.
Thông tin về những vấn đề phức tạp trong BCTC phải được giải trình trong phần thuyết minh.