Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014, hệ thống Tòa án nhân dân trên toàn quốc đã xét xử sơ thẩm 5.835 vụ án giết người với 9.174 bị cáo, chiếm tới 85% trong tổng số 6.859 vụ án xâm phạm tính mạng con người. Mặc dù chỉ chiếm khoảng 3,7% trong tổng số 316.000 vụ án hình sự sơ thẩm được xét xử trong cùng thời kỳ, tội phạm giết người luôn mang tính chất đặc biệt nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm quyền sống của con người và gây tâm lý hoang mang sâu sắc cho cộng đồng. Trong thực tế xét xử, các vụ án giết người xuất phát từ các yếu tố chủ quan đặc biệt như trả thù người thi hành công vụ, giết người để diệt khẩu che giấu tội phạm khác, thuê sát thủ hoặc thực hiện hành vi vì động cơ đê hèn đang có chiều hướng gia tăng với thủ đoạn ngày càng tinh vi, liều lĩnh.

Trước yêu cầu thể chế hóa quyền bất khả xâm phạm về tính mạng của công dân theo Hiến pháp năm 2013 và tinh thần Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật theo Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị, việc làm rõ các dấu hiệu pháp lý thuộc mặt chủ quan của tội giết người là đòi hỏi cấp bách. Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện các khía cạnh lý luận và thực tiễn xét xử sơ thẩm giai đoạn 2010 - 2014 tại Tòa án nhân dân các cấp đối với 5 tình tiết tăng nặng định khung thuộc mặt chủ quan quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn to lớn trong việc chuẩn hóa nhận thức pháp lý, bảo đảm định tội danh chính xác, hạn chế tình trạng bỏ lọt tội phạm và kéo giảm tỷ lệ các bản án bị hủy, sửa do đánh giá sai tính chất mặt chủ quan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết cấu thành tội phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam, nhấn mạnh mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa mặt khách quan và mặt chủ quan. Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc quy tội khách quan mà đòi hỏi hoạt động định tội danh phải dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa hành vi nguy hiểm bên ngoài và diễn biến tâm lý nội tâm của chủ thể. Luận văn đi sâu vào lý luận về ba yếu tố cấu thành mặt chủ quan: lỗi (thái độ tâm lý cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp đối với hành vi và hậu quả), mục đích phạm tội (kết quả mong muốn đạt được, xác định khuynh hướng ý chí) và động cơ phạm tội (động lực bên trong thúc đẩy thực hiện hành vi).

Bên cạnh đó, nghiên cứu hệ thống hóa 4 khái niệm pháp lý then chốt: khái niệm tình tiết tăng nặng định khung theo khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình, so với khung 7 năm đến 15 năm tù của trường hợp giết người thông thường tại khoản 2); khái niệm công vụ và người thi hành công vụ theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009; khái niệm động cơ đê hèn theo tinh thần Nghị quyết số 04/HĐTP năm 1986 của Tòa án nhân dân tối cao; và chế định đồng phạm trong các hành vi thuê giết người.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ báo cáo thống kê xét xử định kỳ của Tòa án nhân dân tối cao và báo cáo tổng kết phòng chống tội phạm của Bộ Công an trong 5 năm (2010 - 2014). Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 5.835 vụ án giết người xét xử sơ thẩm trên toàn quốc, kết hợp cùng phương pháp chọn mẫu định tính với hơn 50 hồ sơ vụ án điển hình có chứa các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan.

Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp với các phương pháp phân tích luật học so sánh, tổng hợp thống kê hình sự và phân tích án lệ thực tế. Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ yêu cầu phải đánh giá tiến trình phát triển của các quy định pháp luật qua từng giai đoạn lịch sử từ Sắc lệnh số 27-SL năm 1946, Bộ luật Hình sự năm 1985 đến Bộ luật Hình sự năm 1999, đồng thời giúp cơ quan tiến hành tố tụng nhận diện chính xác các dấu hiệu tâm lý vô hình bên trong thông qua các biểu hiện hành vi bên ngoài của hung thủ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, dữ liệu thống kê phản ánh tội giết người chiếm tỷ trọng áp đảo 85% (5.835 vụ trên tổng số 6.859 vụ) trong nhóm các tội xâm phạm tính mạng con người giai đoạn 2010 - 2014. Tỷ lệ này cao hơn rất nhiều so với các tội danh khác như vô ý làm chết người (347 vụ, chiếm 5,06%) hay giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (221 vụ, chiếm 3,22%).

Thứ hai, tình trạng giết người vì lý do công vụ của nạn nhân diễn biến phức tạp và có mối liên hệ chặt chẽ với sự gia tăng của tội chống người thi hành công vụ. Số liệu từ Bộ Công an ghi nhận tội chống người thi hành công vụ đã tăng 43,5%, từ 712 vụ với 1.537 bị cáo năm 2010 lên 1.022 vụ với 1.603 bị cáo năm 2014, trong đó xuất hiện nhiều vụ án trả thù tàn khốc lực lượng công an, kiểm sát và thanh tra giao thông.

Thứ ba, hành vi giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác chiếm khoảng 8% tổng số vụ giết người, trong đó động cơ che giấu hành vi hiếp dâm chiếm tỷ lệ cao nhất với 6,7%. Thủ phạm thường thực hiện hành vi sát hại nạn nhân nhằm bịt đầu mối, ngăn chặn việc tố giác hoặc tạo điều kiện thuận lợi để tẩu tán tài sản cướp được.

Thứ tư, thực tiễn áp dụng pháp luật bộc lộ nhiều khoảng trống do các văn bản hướng dẫn thi hành chưa theo kịp thực tế. Kể từ sau Nghị quyết số 04/HĐTP năm 1986, các thuật ngữ định tính như "động cơ đê hèn" hay "lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân" chưa có thông tư liên tịch giải thích cụ thể, dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất giữa các Tòa án địa phương.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những bất cập trên bắt nguồn từ sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường, kéo theo sự phân hóa giàu nghèo, suy thoái đạo đức và sự xuất hiện của các băng nhóm đòi nợ thuê, đâm thuê chém mướn. Bên cạnh đó, việc chứng minh mặt chủ quan vốn là hoạt động đánh giá tâm lý nội tâm nên Điều tra viên và Kiểm sát viên thường gặp khó khăn nếu người phạm tội ngoan cố không khai báo động cơ thực sự.

Về mặt trực quan, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện qua biểu đồ hình tròn phản ánh cơ cấu 85% số vụ giết người so với 15% của các tội xâm phạm tính mạng khác, song song với biểu đồ cột biểu diễn đà tăng trưởng liên tục của các vụ án chống người thi hành công vụ từ mức 712 vụ lên 1.022 vụ. Việc đối chiếu các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 và năm 1999 khẳng định tính tất yếu của việc cá thể hóa hình phạt, đồng thời đòi hỏi các cơ quan tư pháp phải lượng hóa rõ ràng các dấu hiệu chủ quan nhằm bảo đảm phán quyết công minh, đúng người, đúng tội.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Tòa án nhân dân tối cao cần chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các tình tiết tăng nặng tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự. Mục tiêu đạt 100% các tiêu chí như "động cơ đê hèn", "vì lý do công vụ" và "lấy bộ phận cơ thể" được định lượng và chuẩn hóa khái niệm trong giai đoạn 2016 - 2018.

Thứ hai, tăng cường hiệu quả công tác điều tra và khám nghiệm: Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học giám định tâm lý tư pháp và kỹ thuật hình sự trong điều tra án mạng. Lộ trình thực hiện thường xuyên nhằm kéo giảm tỷ lệ hồ sơ án mạng bị trả điều tra bổ sung do thiếu chứng cứ chứng minh động cơ phạm tội xuống dưới 2%.

Thứ ba, nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố: Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần tăng cường kiểm sát chặt chẽ hoạt động thu thập chứng cứ ngay từ giai đoạn khám nghiệm hiện trường. Mục tiêu bảo đảm 100% cáo trạng truy tố đúng khung định tội tăng nặng, không để xảy ra tình trạng Tòa án phải chuyển khung hình phạt sang khoản 2 Điều 93 trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ tư, đổi mới kỹ năng tranh tụng và xét xử: Tòa án nhân dân các cấp định kỳ tổ chức các khóa tập huấn nghiệp vụ xét xử tội phạm có tính chất bạo lực, phấn đấu giảm tỷ lệ bản án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy hoặc sửa do đánh giá sai tình tiết tăng nặng mặt chủ quan xuống dưới 1,5%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan và cán bộ tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán các cấp có thể sử dụng công trình như một tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ để nhận diện chính xác các yếu tố lỗi và động cơ trong hơn 1.000 vụ án giết người mỗi năm, giúp hạn chế tối đa nguy cơ oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

Nhóm cơ quan lập pháp và tư vấn chính sách: Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và Bộ Tư pháp có nguồn tư liệu thực tiễn từ 5.835 vụ án sơ thẩm để phục vụ việc rà soát, sửa đổi và hoàn thiện các điều khoản định khung tăng nặng trong các dự thảo luật hình sự sửa đổi.

Nhóm giảng viên và nhà nghiên cứu luật học: Các học viện tư pháp và cơ sở đào tạo luật có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo chuyên sâu trong giảng dạy bộ môn Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, đặc biệt là chuyên đề về mặt chủ quan của tội phạm.

Nhóm học viên cao học và sinh viên luật: Học viên và sinh viên ngành tư pháp có thể tham khảo phương pháp luận khoa học, cách tiếp cận lịch sử lập pháp từ năm 1945 và kỹ thuật xử lý dữ liệu án lệ thực tế để phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan.

Câu hỏi thường gặp

Mặt chủ quan của tội giết người bao gồm những yếu tố pháp lý nào? Mặt chủ quan của tội giết người bao gồm ba yếu tố cốt lõi: lỗi (bắt buộc phải là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp), động cơ và mục đích phạm tội. Các động cơ nguy hiểm như đê hèn, chống đối công vụ hoặc giết người diệt khẩu là căn cứ định khung tăng nặng tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 với mức án lên đến 20 năm tù, chung thân hoặc tử hình.

Thế nào là tình tiết giết người vì lý do công vụ của nạn nhân? Đây là hành vi tước đoạt tính mạng của người thi hành công vụ trước hoặc sau khi họ thực hiện nhiệm vụ hợp pháp, xuất phát từ động cơ trả thù hoặc ngăn cản công vụ. Điển hình như vụ án tại Hà Nội khi thủ phạm dùng dao chém cán bộ cảnh sát giao thông sau khi bị lập biên bản xử phạt vi phạm tốc độ 51/40 km/h.

Động cơ đê hèn trong tội giết người được nhận diện qua những trường hợp nào? Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/HĐTP năm 1986, động cơ đê hèn thể hiện tính ích kỷ, bội bạc và đồi bại về đạo đức, bao gồm: giết vợ hoặc chồng để tự do kết hôn với người khác, giết người tình đang mang thai để trốn trách nhiệm, giết ân nhân để trốn nợ, hoặc sát hại người thân của kẻ thù để trả đũa.

Phân biệt giết người để che giấu tội phạm khác với tình tiết liền trước hoặc sau phạm tội rất nghiêm trọng? Tình tiết giết người để che giấu tội phạm khác bắt buộc phải có mối quan hệ mục đích và động cơ diệt khẩu (chiếm khoảng 8% số vụ giết người). Ngược lại, tình tiết liền trước hoặc sau phạm một tội rất nghiêm trọng chỉ đòi hỏi tính kế tiếp về mặt thời gian mà không yêu cầu mối liên hệ nhân quả giữa hai tội phạm.

Tình tiết thuê giết người khác với hành vi giết người thuê như thế nào? Thuê giết người là hành vi dùng tiền hoặc lợi ích vật chất để sai khiến, kích động người khác giết nạn nhân (tình tiết tăng nặng tại điểm m khoản 1 Điều 93). Trong khi đó, kẻ trực tiếp ra tay nhận thù lao vật chất bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi giết người vì động cơ đê hèn theo điểm q khoản 1 Điều 93.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về 5 tình tiết tăng nặng định khung thuộc mặt chủ quan của tội giết người theo quy định của luật hình sự Việt Nam.
  • Phân tích bức tranh thực tiễn xét xử 5.835 vụ án giết người giai đoạn 2010 - 2014, chỉ rõ sự gia tăng 43,5% của các hành vi chống người thi hành công vụ và tính chất nguy hiểm của tội phạm giết người diệt khẩu.
  • Nhận diện những hạn chế, khoảng trống pháp lý do thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết về các khái niệm định tính như động cơ đê hèn và lấy bộ phận cơ thể nạn nhân.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược từ hoàn thiện kỹ thuật lập pháp đến nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tố tụng.
  • Định hình lộ trình phối hợp liên ngành tư pháp giai đoạn 2016 - 2020 nhằm bảo đảm quyền sống của công dân theo Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn sâu sắc, cung cấp nguồn tham khảo giá trị cho các nhà lập pháp, thẩm phán, kiểm sát viên và chuyên gia luật học. Quý độc giả quan tâm đến việc nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật hình sự có thể khai thác các kết quả nghiên cứu này để phục vụ công tác đào tạo và thực tiễn xét xử.