Chương 1: Cơ sở lý luận và nghiên cứu thực nghiệm về sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán. Chương 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá chứng khoán Việt Nam. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán.
Chương 5: Những gợi ý về chính sách kinh tế vĩ mô nhằm phát triển ổn định thị trường chứng khoán Việt Nam trong tương lai. 3 c CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN 6CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN.1 Khái niệm sơ bộ về thị trƣờng chứng khoán và chỉ số giá chứng khoán 1.1 Khái niệm về thị trƣờng chứng khoán Thị trường chứng khoán là nơi phát hành và trao đổi các loại chứng khoán, thông qua đó một bộ phận vốn nhàn rỗi đem đi đầu tư được huy động và luân chuyển trong nền kinh tế. Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán này được diễn ra ở thị trường sơ cấp, khi người mua mua được những chứng khoán lần đầu phát hành ra công chúng, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã phát hành ở thị trường sơ cấp.
Như vậy, xét về hình thức, thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi hay chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán.2 Chỉ số giá chứng khoán nói lên điều gì? Một thị trường vốn hiệu quả là thị trường mà giá chứng khoán được điều chỉnh ngay khi xuất hiện nguồn thông tin mới có liên quan hay nói cách khác sức khoẻ của mỗi doanh nghiệp niêm yết đều được thể rõ ràng thông qua chỉ số giá cổ phiếu của họ. Chỉ số giá chứng khoán cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư đánh giá và phân tích thị trường chứng khoán, từ đó đưa ra những quyết định đầu tư phù hợp. Chỉ số giá chứng khoán là số tương đối biểu hiện bằng điểm, bằng sự quan hệ so sánh giữa giá cổ phiếu bình quân kỳ nghiên cứu (hiện tại) với giá bình quân kỳ gốc đã chọn (thường coi là 100 hoặc 1000). Chỉ số giá chứng khoán được cấu thành bởi 2 yếu tố là loại chứng khoán (trọng số) và giá của từng chứng khoán cấu thành.
Giá trị của chỉ số giá chứng khoán phản ánh tình hình của thị trường chứng khoán, chúng sẽ được tổng hợp từ danh mục các chứng khoán theo phương pháp nhất định. Thông thường, danh mục sẽ gồm các chứng khoán có đặc điểm chung như cùng ngành, cùng mức vốn hoá hay cùng một Sở giao dịch… 4 c 1.3 Chức năng của thị trƣờng chứng khoán và những đóng góp của nó trong nền kinh tế Việt Nam Thị trường chứng khoán Việt Nam đảm nhận 5 chức năng chủ yếu sau: Thứ nhất: xét về “quan hệ nguồn vốn”: Thị trường chứng khoán là nơi gặp gỡ giữa những người thiếu vốn và những người có vốn nhàn rỗi muốn đầu tư sinh lợi. Tại thị trường chứng khoán các cá thể này có thể chuyển các khoản tiết kiệm vào đầu tư, khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành thì số tiền tiết kiệm nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh; qua đó mở rộng quy mô sản xuất xã hội, đáp ứng được nhu cầu cần vốn của các chủ thể phát hành. Đồng thời thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ Nhà Nước cũng huy động được các nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ cho mục đích đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho xã hội.
chức năng này vô cùng quan trọng vì nhờ có TTCK đã khơi thông dòng chảy tiền tệ trong nền kinh tế - khi phát hành chứng khoán vốn được huy động đầu tư cho nền kinh tế. Thứ hai: “đa dạng hoá đầu tư” khi không có thị trường chứng khoán, các nhà đâu tư thiếu đi một kênh đầu tư mạnh mẽ, chỉ đầu tư vào tiền gửi tiết kiệm, đầu tư bất động sản, đầu tư vàng và các khoán sản quý.tính thanh khoản không được linh hoạt như chứng khoán. Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng kênh đầu tư đa dạng với cơ hội đầu tư phong phú, nhiều loại chứng khoán trên thị trường với mức độ rủi ro khác nhau để các nhà đầu tư có thể lựa chọn công cụ đầu tư phù hợp với khả năng và sở thích của mình. Thứ ba: “đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, giá trị của doanh nghiệp” sau khi lên sàn, giá trị của doanh nghiệp biểu hiện qua tổng giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp, nó trực tiếp thể hiện sức khoẻ của doanh nghiệp qua các chỉ số ESP, chỉ số giá cố phiếu, các thông tin tích cực và tiêu cực của doanh nghiệp.
Từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích doanh nghiệp không ngừng cải tiến, để ra những chiến lược phù hợp, nâng cao giá trị doanh nghiệp. 5 c Thứ tư: “tạo khả năng thanh khoản” TTCK là nơi các nhà đầu tư có thể chuyển đổi được các chứng khoán của họ thành tiền mặt hoặc có thể chuyển thành các loại chứng khoán khác mà họ có nhu cầu. Chức năng này rất quan trọng vì đây tạo cho nhà đầu tư niềm tin về hiệu quả hoạt động của TTCK. Thứ năm: “can thiệp vào thị trường” nhờ có sự tồn tại của thị trường chứng khoán, Chính phủ có thể thông qua đó mua hoặc bán trái phiếu/các loại giấy tờ có giá, tạo ra nguồn thu nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách.
Khi thị trường lạm phát, Chính phủ bán ra trái phiếu nhằm thu lại nguồn tiền mặt, giảm lượng lưu thông tiền trong hệ thống tiền tệ kiềm chế lạm phát. Mặt khác, khi cần kích thích nền kinh tế, Chính phủ có thể mua lại các giấy tờ có giá đó, bơm ra thị trường một nguồn tiền thích hợp đủ để hỗ trợ, đảm bảo kinh tế phát triển cân đối theo định hướng Nhà nước.2 Phân loại thị trƣờng chứng khoán Việt Nam 1.1 Phân loại theo phƣơng thức hoạt động của thị trƣờng: Khi căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường thì có thể chia thị trường chứng khoán thành 2 loại, thị trường tập trung và thị trường phi tập trung. Trong đó: Thị trường tập trung hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật các giao dịch được tiến hành tập trung theo một địa điểm, ở đây cụ thể là tại sở giao dịch chứng khoán. Các chứng khoán mua bán được các cơ quan có thẩm quyền cho phép, và bảo đảm hội đủ tiêu chuẩn quy định.
Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC) là thị trường mua bán ngoài Sở giao dịch, không có địa điểm tập trung những nhà môi giới, những nhà kinh doanh chứng khoán giống như tại Sở giao dịch. Các giao dịch ở đây chủ yếu là dựa vào thoả thuận giữa người mua và người bán, không có sự kiểm soát của hội đồng chứng khoán. Các loại chứng khoán mua bán ở đây không được đăng biểu, ít người biết hoặc ít được mua bán.2 Phân loại theo sự luận chuyển các nguồn vốn Căn cứ theo sự luân chuyển nguồn vốn trong thị trường, có thể chia thị trường chứng khoán thành 2 loại: thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp. Thị trƣờng sơ cấp: là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.
Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới được phát hành đó. Vai trò của thị trường sơ cấp: là chứng khoán hoá nguồn vốn cần huy động thông qua việc phát hành mới chứng khoán. Thực hiện quá trình luân chuyển tài chính, trực tiếp đưa tiền từ tài khoán nhàn rỗi sang tài khoản đầu tư, chuyển tiền sang dạng vốn dài hạn. Thị trƣờng thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.
Vai trò của thị trường thứ cấp: nhờ có thị trường thứ cấp đã đảm bảo cho tính thanh khoản của các chứng khoán đã phát hành.3 Phân loại theo hàng hoá trên thị trƣờng Xét về các loại hàng hoá được giao dịch, có thể chia thị trường thành theo 3 hướng: Thị trường cổ phiếu: thị trường là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu bao gồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Thị trường trái phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm trái phiếu Công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu thị trường. Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: bên cạnh các giao dịch truyền thống về cổ phiếu, trái phiếu, các giao dịch mua bán chứng từ tài chính khác như: quyền mua bán chứng từ, hợp đồng quyền chọn đã xuất hiện. Các chứng từ tài chính này được ra đời từ các giao dịch chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) và được quyền đổi sang các chứng khoán bằng hành vi mua bán theo những điều kiện nhất định.
Do đó, người ta gọi chúng là những chứng từ có nguồn gốc chứng khoán hay các “chứng khoán phái sinh”. Thị trường chứng khoán phái sinh là nơi mua đi bán lại các chứng khoán phái sinh đã được phát hành, chuyển giao những công cụ tài chính cao cấp. Vì vậy, thị trường này chỉ xuất hiện ở những nước có thị trường chứng khoán phát triển mạnh.3 Cơ sở lý thuyết về các nhân tố kinh tế vĩ mô và quan hệ của chúng với chỉ số giá chứng khoán Việt Nam 1.1 Quan hệ giữa lạm phát và giá chứng khoán: Trong môi trường kinh tế hiện tại, thì lạm phát đóng vai trò là một biến đóng góp quan trọng trong sự phát triển của quốc gia. Khi xảy ra lạm phát, sự mất giá của đồng tiền làm thay đổi hành vi của người tiêu dùng và đầu tư của dân cư.
Lạm phát thường được đo lường bởi chỉ số giá tiêu dùng CPI. Kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển cho thấy lạm phát và thị trường chứng khoán có mối liên hệ nghịch chiều với nhau, bởi lẻ xu hướng của lạm phát xác định tính chất tăng trưởng. Lạm phát cao luôn là một dấu hiệu cho thấy kinh tế đang “nóng”, báo hiệu sự tăng trưởng bền vững, trong khi thị trường chứng khoán như chiếc nhiệt kế đo sức khoẻ nền kinh tế.