Luận văn thạc sĩ: Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn UBND tỉnh Ninh Bình theo vị trí việc làm - Phạm Thanh Nga

Luận văn thạc sĩ tập trung vào việc bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Ninh Bình, gắn liền với vị trí việc làm. Nghiên cứu cung cấp

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

135
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan bồi dưỡng công chức theo vị trí việc làm

Bồi dưỡng công chức theo vị trí việc làm là hoạt động trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng và phương pháp cần thiết để công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tại UBND tỉnh Ninh Bình, công tác này hướng tới nâng cao năng lực thực thi công vụ cho đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn. Nghị định số 18/2010/NĐ-CP đã quy định rõ khái niệm bồi dưỡng theo vị trí việc làm. Mỗi vị trí công việc yêu cầu bộ năng lực riêng biệt. Công chức làm công tác tổ chức nhân sự cần kiến thức về quản lý biên chế, kỹ năng tổng hợp và phân tích. Công chức ở vị trí tài chính cần thành thạo nghiệp vụ kế toán, quản lý ngân sách. Việc bồi dưỡng theo vị trí việc làm giúp cá nhân hóa quá trình đào tạo. Người học nhận được đúng kiến thức cần thiết cho vị trí công tác. Phương pháp này hiệu quả hơn so với đào tạo đại trà. Ninh Bình đang từng bước triển khai mô hình bồi dưỡng này theo hướng cải cách hành chính công.

1.1. Khái niệm công chức cơ quan chuyên môn cấp tỉnh

Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch công tác trong các sở, ban ngành. Họ thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước trên từng lĩnh vực chuyên môn. Đội ngũ này bao gồm công chức hành chính và công chức chuyên ngành. Mỗi vị trí việc làm có tiêu chuẩn năng lực cụ thể. Tiêu chuẩn này gồm trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức. Việc xác định rõ vị trí việc làm là cơ sở để xây dựng chương trình bồi dưỡng phù hợp.

1.2. Vai trò của bồi dưỡng theo vị trí việc làm

Bồi dưỡng theo vị trí việc làm đóng vai trò then chốt trong nâng cao chất lượng đội ngũ công chức. Hình thức này giúp công chức bổ sung kiến thức mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nó gắn liền với trách nhiệm cụ thể của từng vị trí công tác. Bồi dưỡng theo vị trí việc làm tạo điều kiện cho công chức phát triển chuyên sâu. Qua đó nâng cao hiệu quả giải quyết công việc hàng ngày. Phương pháp này cũng góp phần xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại.

II. Phân tích thực trạng bồi dưỡng tại Ninh Bình

Nghiên cứu thực trạng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2016-2020 cho thấy nhiều kết quả đáng ghi nhận. Công tác bồi dưỡng đã được quan tâm triển khai theo các quy định của Trung ương. Tuy nhiên, việc bồi dưỡng theo vị trí việc làm còn hạn chế. Nội dung chương trình chưa gắn chặt với yêu cầu từng vị trí cụ thể. Phương thức tổ chức chủ yếu theo hình thức tập trung, ít linh hoạt. Đội ngũ giảng viên kiêm chức từ thực tiễn chưa được huy động đầy đủ. Ngân sách dành cho bồi dưỡng còn eo hẹp so với nhu cầu thực tế. Công tác đánh giá hiệu quả sau bồi dưỡng chưa được coi trọng đúng mức. Nhiều công chức phản ánh nội dung học chưa sát với thực tế công việc. Việc xây dựng danh mục vị trí việc làm ở các cơ quan chuyên môn còn chậm tiến độ. Đây là rào cản lớn để triển khai bồi dưỡng theo vị trí việc làm một cách hiệu quả.

2.1. Những kết quả đạt được trong giai đoạn 2016 2020

Giai đoạn 2016-2020, Ninh Bình đã hoàn thành nhiều chỉ tiêu bồi dưỡng công chức. Số lượng công chức được tham gia các khóa bồi dưỡng tăng đều qua các năm. Nội dung bồi dưỡng bước đầu được phân loại theo nhóm đối tượng. Sở Nội vụ đã chủ trì xây dựng kế hoạch bồi dưỡng hàng năm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo được đẩy mạnh. Một số cơ quan chuyên môn đã thí điểm bồi dưỡng theo chuyên đề gắn với nhiệm vụ.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Hạn chế lớn nhất là chương trình bồi dưỡng chưa theo vị trí việc làm cụ thể. Nội dung còn nặng lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành. Thời gian bồi dưỡng chưa linh hoạt, gây khó khăn cho công tác chuyên môn. Nguyên nhân chính là thiếu hệ thống đánh giá năng lực theo vị trí. Ngân sách đào tạo phân bổ chưa hợp lý. Nhận thức của một số công chức về tầm quan trọng bồi dưỡng còn hạn chế. Công tác khảo sát nhu cầu bồi dưỡng chưa được tiến hành bài bản.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả bồi dưỡng công chức

Để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng công chức theo vị trí việc làm tại UBND tỉnh Ninh Bình, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, xây dựng hệ thống vị trí việc làm chi tiết cho từng cơ quan chuyên môn. Trên cơ sở đó, xây dựng chương trình bồi dưỡng phù hợp với từng nhóm vị trí. Nội dung bồi dưỡng cần cân đối giữa lý thuyết và thực hành. Chú trọng bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng gắn với nhiệm vụ cụ thể. Kết hợp giảng viên cơ hữu với giảng viên kiêm chức từ thực tiễn. Áp dụng đa dạng hình thức bồi dưỡng: tập trung, trực tuyến, tại chỗ. Tăng cường kinh phí và nguồn lực cho công tác bồi dưỡng. Xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả sau bồi dưỡng. Khuyến khích công chức chủ động trong việc tự học, tự bồi dưỡng. Tham khảo kinh nghiệm các quốc gia có nền công vụ phát triển trong đào tạo công chức.

3.1. Xây dựng chương trình bồi dưỡng gắn với vị trí việc làm

Giải pháp trọng tâm là xây dựng chương trình bồi dưỡng gắn với nhiệm vụ cụ thể từng vị trí việc làm. Cần rà soát, phân loại vị trí công việc tại các cơ quan chuyên môn. Mỗi vị trí cần có khung năng lực và chương trình bồi dưỡng riêng. Nội dung phải bảo đảm đầy đủ nghiệp vụ chuyên môn theo chức trách. Đồng thời cập nhật kiến thức mới, kinh nghiệm thực tiễn. Chương trình cần được đánh giá, điều chỉnh định kỳ theo yêu cầu thực tế.

3.2. Đổi mới phương thức tổ chức và đánh giá

Cần đa dạng hóa hình thức bồi dưỡng beyond lớp học truyền thống. Áp dụng phương pháp đào tạo trực tuyến, học tập qua tình huống thực tế. Tổ chức bồi dưỡng tại chỗ gắn với giải quyết công việc hàng ngày. Xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả bồi dưỡng khách quan, minh bạch. Đánh giá trước và sau khóa học để đo lường sự tiến bộ. Sử dụng kết quả đánh giá làm cơ sở quy hoạch, bổ nhiệm công chức.

IV. Kết luận và hướng ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về bồi dưỡng công chức theo vị trí việc làm tại UBND tỉnh Ninh Bình khẳng định tầm quan trọng của công tác này. Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là xu thế tất yếu trong cải cách hành chính công. Kết quả nghiên cứu cho thấy Ninh Bình đã có bước tiến nhất định trong giai đoạn 2016-2020. Tuy nhiên, việc triển khai bồi dưỡng theo vị trí việc làm còn nhiều thách thức. Các giải pháp đề xuất cần được thực hiện đồng bộ, có lộ trình cụ thể. Trước tiên là hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm. Tiếp đến là xây dựng chương trình bồi dưỡng chuyên biệt. Cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các địa phương khác có điều kiện tương tự. Đây là đóng góp vào quá trình cải cách hành chính và xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung đánh giá tác động dài hạn của bồi dưỡng theo vị trí việc làm.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Nghiên cứu bổ sung cơ sở lý luận về bồi dưỡng công chức theo vị trí việc làm ở cấp tỉnh. Làm rõ khái niệm, đặc trưng và quy trình bồi dưỡng theo vị trí việc làm. Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực tiễn về thực trạng tại Ninh Bình. Góp phần hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức. Đề xuất mô hình bồi dưỡng khả thi cho các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh.

4.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Ninh Bình cần xây dựng chiến lược bồi dưỡng công chức dài hạn. Đầu tư hạ tầng công nghệ phục vụ đào tạo trực tuyến. Tăng cường hợp tác với Học viện Hành chính Quốc gia và các cơ sở đào tạo. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về vị trí việc làm công chức. Hướng tới mục tiêu mỗi công chức được bồi dưỡng đúng vị trí, đúng nhu cầu. Đây là nền tảng xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

17/04/2026
Luận văn thạc sĩ bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ubnd tỉnh ninh bình theo vị trí việc làm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở khoa học về bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh theo vị trí việc làm. Thực trạng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Ninh Bình theo vị trí việc làm. Quan điểm, giải pháp tăng cường bồi dưỡng công chức các CQCM thuộc UBND tỉnh Ninh Bình theo vị trí việc làm.

10 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH THEO VỊ TRÍ VIỆC LÀM 1. Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 1. Khái niệm công chức Công chức là một thuật ngữ mang tính lịch sử - xã hội. Quan niệm về công chức ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ khác nhau phụ thuộc vào đặc thù của hệ thống chính trị, cách thức tổ chức bộ máy và lịch sử, văn hóa dân tộc mỗi quốc gia.

Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành và hoàn thiện gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nƣớc. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã đƣa ra khái niệm cụ thể về công chức “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [55; tr1-2]. 11 Đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019, có hiệu lực từ ngày 01/7/2020 thì khái niệm Công chức đƣợc hiểu thống nhất nhƣ sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [57; tr. Từ định nghĩa trên, có thể thấy một số đặc điểm của công chức, đó là: Thứ nhất, về tính chất công việc của công chức: Công chức là ngƣời làm việc thƣờng xuyên trong các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội nhất định và có tính chuyên môn nghiệp vụ rõ rệt.

Tính thƣờng xuyên thể hiện ở việc tuyển dụng là không giới hạn về thời gian. Khi đã đƣợc tuyển dụng vào một ngạch, chức danh, chức vụ thì một ngƣời là công chức sẽ làm việc thƣờng xuyên, liên tục. Tính chuyên môn, nghiệp vụ đƣợc thể hiện là công chức đƣợc xếp vào một ngạch. Ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức.

Ngạch công chức bao gồm: Chuyên viên cao cấp và tƣơng đƣơng; chuyên viên chính và tƣơng đƣơng; chuyên viên và tƣơng đƣơng; cán sự và tƣơng đƣơng; nhân viên. Thứ hai, về con đƣờng hình thành công chức: Có hai con đƣờng hình thành công chức là thông qua tuyển dụng và bổ nhiệm. Việc tuyển dụng công chức do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, VTVL và chỉ tiêu biên chế đƣợc giao. Cơ quan thực hiện việc tuyển dụng công chức bao gồm những cơ quan đƣợc quy định tại Khoản 6 Điều 1 Luật 12 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức.

Đó là: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nƣớc; Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nƣớc; Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập; UBND cấp tỉnh; Cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, cơ quan trung ƣơng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của tổ chức chính trị - xã hội. Các cơ quan này đều tiến hành tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý. Ví dụ: UBND cấp tỉnh tiến hành tuyển dụng công chức trong các sở, ban, ngành thuộc cơ cấu tổ chức của CQCM thuộc UBND cấp tỉnh. Ngoài ra, công chức đƣợc bổ nhiệm để giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý cũng là một con đƣờng trực tiếp hình thành công chức.

Việc bổ nhiệm công chức giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý phải căn cứ vào nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị; tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý đƣợc thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền. Ví dụ: Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền bổ nhiệm giám đốc sở. Thứ ba, về nơi làm việc: Nơi làm việc của công chức rất đa dạng, trong các cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc, Tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng, ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh,cáccơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân.

Thứ tư, về thời gian công tác: Công chức đảm nhiệm công tác từ khi đƣợc bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hƣu theo quy định của Bộ luật Lao động. Thứ năm, về chế độ lao động: Công chức đƣợc biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc (Điều 12 – Luật cán bộ, công chức năm 2008). Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Điều 9, Luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng năm 2015 quy định cơ quan chuyên môn thuộc UBND: “1. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND đƣợc tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mƣu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực ở địa phƣơng và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nƣớc cấp trên.

Cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực cấp trên. Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phƣơng; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực từ trung ƣơng đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nƣớc cấp trên đặt tại địa bàn. Chính phủ quy định cụ thể tổ chức và hoạt động của CQCM thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện” [56; tr. Có thể khái quát, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh là cơ quan tham mưu cho UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên ủy quyền, phân cấp.

Về tổ chức các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh: Các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh gồm có sở và cơ quan ngang sở (sau đây gọi chung là sở) [27; tr. Điều 8, Điều 9 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định: 14 Các sở được tổ chức thống nhất ở các địa phương (gồm 17 sở): Sở Nội vụ, Sở Tƣ pháp, Sở Kế hoạch và Đầu tƣ, Sở Tài chính, Sở Công thƣơng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trƣờng, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Lao động – Thƣơng binh và Xã hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Y tế, Thanh tra tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân. Các sở đặc thù được tổ chức ở một số địa phương: Sở Ngoại vụ, Ban Dân tộc, Sở Quy hoạch - Kiến trúc. Cơ quan chuyên môn đặc thù khác: Chỉ đƣợc tổ chức khi thật cần thiết, phù hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nƣớc ở địa phƣơng.

Căn cứ tiêu chí do Thủ tƣớng Chính phủ quy định, UBND cấp tỉnh xây dựng đề án thành lập CQCM đặc thù khác, trình HĐND cùng cấp quyết định. Khái niệm, vai trò công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 1. Khái niệm Căn cứ Luật Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2019, Khoản 2, Điều 20, Luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng năm 2015 quy định CQCM thuộc UBND cấp tỉnh và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những ngƣời là công chức, Thông tƣ số 08/2011/TT-BNV ngày 02/6/2011 của Bộ Nội vụ hƣớng dẫn một số điều của Nghị định 06/2010/NĐ- CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ, thì công chức các CQCM thuộc UBND cấp tỉnh bao gồm: Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu CQCM thuộc UBND cấp tỉnh; ngƣời giữ chức vụ cấp trƣởng, cấp phó và ngƣời làm việc trong các tổ 15 chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của CQCM thuộc UBND tỉnh. Theo quy định này, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh bao gồm: Giám đốc sở, phó giám đốc sở, trƣởng phòng, phó trƣởng phòng, những ngƣời làm việc trong các phòng chuyên môn, nghiệp vụ của sở (đã đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch công chức, trong biên chế, hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ